Thứ Ba, 27 tháng 9, 2011
Bài 427 : Phân Biệt Bệnh Về Hàn-Nhiệt
Xét theo tứ chẩn vọng văn vấn thiết :
A-Chứng Hàn
Vọng:
Sắc mặt : Trắng mét, hay trắng xanh.
Mắt : Trong, mắt ưa nhắm không muốn nhìn ai.
Môi : Nhợt trắng hoặc tím xanh.
Móng : Xanh tím.
Lưỡi : Hoạt nhuận, đầu lưỡi nở to, trắng nhạt, rêu lưỡi trắng trơn.
Đàm: Có đờm lỏng trắng.
Thần : Trầm tĩnh, hoặc uể oải.
Thân : Ưa rút chân nằm co, sợ lạnh.
Bệnh: Ngoại nhân do lục dâm, nội nhân do dương khí suy yếu, âm khí qúa thịnh, cơ năng trao đổi chất giảm, vệ khí yếu, thường gặp trong bệnh mạn tính.
Văn :
Nói : Ìt nói
Thở : Khẽ nhẹ.
Vấn :
Đại tiện : Lỏng nhão.
Tiểu tiện: Trong, nhiều.
Ăn : Ưa ăn thức ăn nóng, hay nhổ nước bọt nhiều.
Uống : Không khát, ưa uống nước nóng.
Thiết :
Mạch chẩn: Mạch trầm ,tế, trì, hoãn,vô lực.
Xúc chẩn : Tay chân lạnh, vùng bụng lạnh đau.
B-Chứng Nhiệt
Vọng :
Sắc mặt : đỏ.
Mắt : đỏ, mở lớn nhìn người.
Môi : Khô nứt hoặc sưng đỏ.
Móng : Đỏ tím.
Lưỡi : Cứng sượng, rêu thô vàng hoặc gai, hoặc đen, đầu lưỡi xanh sậm.
Đàm :Có đờm vàng đặc.
Thần: Bức rứt không yên.
Thân :Hay lăn lộn, ưa nằm ngửa duỗi thẳng chân.
Bệnh: Ngoại nhân do lục dâm, nội nhân do dương qúa thịnh, âm suy, cơ năng trao đổi chất dư
thừa, thường gặp trong bệnh cấp tính, có thể sốt nhiệt.
Văn :
Nói : Nói nhiều .
Thở : Thở mạnh, bực bội.
Vấn :
Đại tiện : Bón, bí kết, phân cứng thành hòn cục, mấy ngày không ra.
Tiểu tiện : Đỏ, ít.
Ăn :Ưa ăn thức ăn mát, ít nhổ nước bọt.
Uống :Khát thích uống nước lạnh.
Thiết :
Mạch chẩn : Mạch phù, hồng, sác, cấp, có lực.
Xúc chẩn : Tay chân ấm nóng, bụng đau gò quặn, nổi cộm hòn cục.
Chứng Hàn : (045)
Do dương khí suy, âm khí thịnh làm cơ năng trao đổi chất giảm, có dấu hiệu sắc mặt trắng xanh, uể oải, nằm co, sợ lạnh, bụng lạnh đau, không khát, thích uống nước nóng, phân nhão lỏng, tiểu nhiều trong, chất lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, thường gặp trong bệnh mạn tính, hàn vào phổi sinh suyễn hàn, hàn ở lồng ngực làm ra bệnh tim mạch, bệnh mạch vành, hàn ở bụng dưới làm đau bụng mỗi kỳ kinh ở phụ nữ.
Chứng Nội Hàn : (046)
Do dương hư khí yếu công năng tạng phủ suy giảm không đủ nhiệt để thủy hoá khí nên thủy không được vận hoá bị ứ đọng sinh hàn..
Chứng Hàn Kết : (047)
Do âm hàn ngưng trệ tạo ra bệnh đại tiện bí kết có dấu hiệu đau hoặc sôi bụng, tiểu trong, môi tái, miệng nhạt, rêu lưỡi trắng trơn.
Chứng Hàn Tà : (048)
Do nội tạng hư hàn làm bệnh có dấu hiệu đại tiện trong loãng như phân vịt, hoặc ra thức ăn sống sít, bụng sôi đau âm ỉ kéo dài, tiểu trong, rêu lưỡi trắng trơn.
Chứng Hàn Sán : (049)
Làm đau bụng lạnh cấp tính, quanh rốn đau như thắt, chân tay tê dại, vã mồ hôi lạnh, toàn thân giá lạnh, do tỳ vị hư hàn, hoặc do huyết hư sau khi sanh lại bị cảm phong hàn làm bụng co cứng đau lan sang hai bên sườn, hoặc do kinh can bị hàn khí xâm nhập làm bộ sinh dục lạnh, sưng rắn đau co rút đau.
Chứng Hàn Thực : (050)
Chính khí không hư mà hàn tà phát sinh do ăn uống kết ở trong có dấu hiệu chân tay lạnh, tiểu tiện trong, đau bụng, bí đại tiện ,lưỡi nhuận, rêu trắng.
Chứng Hàn Thực Kết Hung : (051)
Do mắc bệnh thương hàn lại tắm nước lạnh, nhiệt tà bị hàn khí ngăn trở, thủy hàn làm thương phế, hàn khí kết nơi hông sườn làm đau vùng ngực, tâm phiền không khát, không phát nhiệt.
Chứng Hàn Lật : (052)
Do qúa hàn trong phủ tạng phát sinh run rẩy lập cập, mỗi khi phát hàn, hai hàm răng gõ vào nhau, thường gặp trong bệnh sốt rét, bệnh dịch, hoặc phạm thuốc péniciline.
Chứng Hàn Quyết : (053)
Do dương khí hư yếu vì nội tạng hư hàn, có dấu hiệu mệt mỏi, sợ lạnh, iả nước trong, chân tay lạnh buốt, mình lạnh nằm co, không khát, bụng đau, mặt đỏ, móng chân tay thâm xanh, choáng váng, ngã lăn bất tỉnh.
Chứng Hàn Bao Hỏa : (054)
Cơ thể bẩm sinh tích nhiệt bị bệnh cảm lạnh, hàn bao ở bên ngoài khiến nhiệt uất bên trong làm ra bệnh hen suyễn .
Chứng Hàn Nhiệt Thác Tạp : (055)
Chứng hàn, chứng nhiệt thay đổi nhau như trên nóng dưới lạnh, trên lạnh dưới nóng,biểu nóng lý lạnh, biểu lạnh lý nóng.
Chứng Nhiệt Kết Bàng Lưu : (056)
Có dấu hiệu đại trường thực nhiệt đi cầu táo bón không thông, khó đi nhưng chỉ ra nước chứ không ra phân cục như táo bón thông thường.
Chứng Nhiệt Kết Hạ Tiêu : (057)
Nhiệt kết vùng đại tiểu trường, thận, bàng quang khiến sự khí hóa của tạng phủ hạ tiêu trở ngại làm bụng dưới trướng đau, đại tiện bí, tiểu tiện tắc buốt hoặc tiểu ra máu.
Chứng Nhiệt Thịnh Khí Phận : (058)
Có dấu hiệu sốt cao, mặt đỏ, tâm phiền, vã mồ hôi, khát, rêu lưỡi vàng khô. Nếu nhiệt kết thực chứng nặng sẽ sốt cao về chiều, thậm chí hôn mê, đau bụng, bí đại tiện , rêu lưỡi vàng dầy khô.
Chứng Nhiệt Vào Huyết Phận : (059)
Huyết phận là nơi sâu nhất trong cơ thể bị nhiệt tà truyền vào nên thường sốt cao về đêm, tinh thần ủ rũ, trằn trọc, co giật, đặc biệt nổi vết ban chẩn là huyết bị hại nhiễm độc, lưỡi đỏ bầm nổi hột.
Chứng Nhiệt Vào Tâm Bao: (060)
Là tà nhiệt truyền vào doanh phận làm tổn thương thần kinh gây hôn mê kéo dài không tỉnh, thường đi đôi với đờm gây biến chứng, dễ bị di chứng bại liệt, mất trí.
Chứng Nhiệt Cực Sinh Phong : (061)
Do thực nhiệt thịnh tổn thương vinh huyết, can huyết, làm huyết nhiễm độc gây ra bệnh viêm não, sốt cao co giật, kiết lỵ máu, bại huyết.
Chứng Nhiệt Thương Cân Mạch : (hỏa thiêu gân) (062)
Do sốt cao kéo dài làm âm suy kiệt, gân cốt mất nuôi dưỡng khiến gân co quắp, bại liệt.
Chứng Nhiệt Uất : (063)
Khí uất do giận kết lại trong gan hóa nhiệt làm đau đầu, miệng khô đắng, ngực sườn đầy tức, nôn ợ chua, bí đại tiểu tiện, nước tiểu đỏ ra ít , ù tai, tính nóng nẩy,chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng.
Chứng Thượng Hàn Hạ Nhiệt : (064)
Là bệnh hàn nhiệt lẫn lộn, nhiệt tà ở dưới làm trướng bụng, tiện bí, tiểu sẻn đỏ, trên nhiễm hàn tà làm lợm giọng, nôn mửa, ho suyễn, đờm ẩm, rêu trắng.
Chứng Thượng Nhiệt Hạ Hàn : (065)
Là bệnh hàn nhiệt lẫn lộn do khí của âm dương làm bệnh trong trường hợp ngoại cảm dùng công hạ sinh iả chảy không ngừng, tân dịch tiêu hao, nhiệt tà thừa cơ xung nghịch lên khiến họng đau, khạc ra đờm vàng dính lẫn máu, hàn tà ở dưới sinh iả lỏng nát, tứ chi lạnh.
Chứng Triều Nhiệt : (066)
Phát sốt từng cơn có định kỳ vào thời gian nhất định, đa số về chiều thuộc âm gọi là âm hư triều nhiệt do 3 nguyên nhân :
Âm dịch suy kém:
Cứ tối đến là phát sốt ra mồ hôi trộm, gọi là âm hư triều nhiệt.
Dương khí bị thấp tà lấn át:
Gây bệnh sốt về chiều gọi là thấp ôn triều nhiệt.
Nhiệt tà kết ở ruột :
Phát sốt mỗi buổi chiều gọi là nhật bộ trào nhiệt.
Ngoài ra nếu sốt nhiệt do ôn bệnh truyền vào doanh phận hay huyết phận, không thuộc triều nhiệt.
Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011
Cập nhật hoá những phương pháp chẩn đoán phát hiện bệnh ung thư ruột già.
Hội Y Sĩ Việt Nam tại Canada
Bs Nguyễn Thanh Bình
Ngày Y Tế 10 tháng 9 năm 2011 tại Montreal
• Ung thư ruột già là ung thư nhiều thứ nhì
• sau ung thư phổi.
• Mỗi năm, ở Canada, có 23.000 người bị bệnh này, trong đó khoảng hơn 9.000 người tức gần một nửa bị thiệt mạng.
I. TRIỆU CHỨNG
1) Đau bụng
• Thường xảy ra trễ,
• phải đau ở một vị trí cố định,
• càng ngày càng đau nhiều hơn.
Lâu lâu đau một lần, ở những vị trí khác nhau, thường vì ruột bị căng hơi, không đáng lo ngại
2) Thay đổi thói quen (đại tiện)
• - đang đi tiêu đều hàng ngày,
• - tự nhiên bị táo bón hoặc tiêu chảy
• - Phân nhỏ đi : ăn cơm, tiêu ra spaghetti.
3) Đi tiêu ra máu:
có nhiều nguyên nhân.
• Vì trĩ (khi đau, khi không)
• Vì rách hậu môn (lúc nào cũng đau, nhất là khi đi tiêu)
• Vì viêm ruột già (colite) do nhiễm trùng, siêu vi trùng, ký sinh trùng, hay loét ruột, lúc nào cũng đi kèm với tiêu chảy,
• Vì bong bóng (diverticule)
• Vì thiếu máu nuôi ruột (colite ischémique)
• Vì bướu thịt (polype) hoặc ung thư đi tiêu ra mũi lẫn máu (như jello)
- Thường thì không có triệu chứng gì hết, Tây nó gọi là kẻ giết người âm thầm (Tueur silencieux)
- Vì vậy cần phải phát hiện sớm, phải tìm nó để chữa trị kịp thời, trước khi quá muộn.
II. KHI NÀO CẦN TÌM BỆNH UNG THƯ RUỘT GIÀ?
Nguy cơ bị ung thư ruột được chia làm 2 loại:
• Nguy cơ trung bình và nguy cơ cao, tuỳ theo
• tuổi
• và bệnh sử cá nhân,
• hoặc bệnh sử gia đình.
• - tuổi : Người ta lấy tuổi 50 làm mốc.
• - Có bệnh sử gia đình cha mẹ, anh chị em bị ung thư ruột già.
• - Có bệnh sử cá nhân: đã bị mổ vì ung thư ruột già, hoặc đã được cắt bướu thịt trong quá khứ.
1. Nguy cơ trung bình:
• từ 50 tuổi trở lên: cần tìm bệnh
• từ 50 tuổi trở xuống: không cần tìm bệnh, trừ khi có triệu chứng
2. Nguy cơ cao
• nếu có bệnh sử gia đình hoặc cá nhân:
tìm bệnh từ 40 tuổi nếu người trong gia đình bị bệnh trước 50 tuổi, thì lấy tuổi của người bệnh trừ 10 để biết lúc nào cần tìm bệnh (thí dụ: 43 -10 = 33)
• nếu đã được mổ vì ung thư ruột già,phải soi ruột định kỳ:
Mổ --->1 năm --->3 năm --->5 năm--->5 năm
• nếu đã bị cắt bướu thịt, phải soi ruột định kỳ, nhưng khi nào cần soi phụ thuộc nhiều yếu tố:
. số bướu, loại bướu và độ lớn của bướu do bác sĩ chuyên khoa quyết định.
III. LÀM CÁCH NÀO ĐỂ TÌM BỆNH UNG THƯ RUỘT GIÀ.
1) tìm máu trong phân
2) chụp hình Ruột
3) Soi ruột bên trái
4) liên kết chụp hình và soi ruột bên trái
5) soi ruột ảo
6) soi ruột thông thường
1) Tìm máu trong phân (máu mà mắt nhìn không thấy).
• Lấy phân hoà với nước rồi thử:
• phải làm 3 lần với phân của 3 ngày khác nhau.
- Hémocult:phải cữ ăn thịt đỏ, uống chất sắt, v.v…
mức độ khả tín chỉ 20%
- F.I.T: không cần ăn cữ:
Chính xác hơn cỡ 30%
• Làm 1 hay 2 lần mỗi năm chỉ là cách thử sơ đẳng, vì:
• Nếu không có máu:
Không bảo đảm là không có bệnh.
• Nếu có máu:
Không chắc là bị ung thư (vì trĩ, rách hậu môn v.v…)
• Nên làm thêm những thí nghiệm khác.
2. Chụp hình ruột: lavement-baryté
Rửa ruột: bơm Baryum, rồi chụp hình.
Mức độ khả tín 75%.
Khúc ruột lên, ruột ngang: coi rõ.
Khúc ruột vòng (sigmoide) vì hình chồng lên nhau, coi không rõ.
• Bướu thịt nhỏ hơn 1cm chỉ thấy được khoảng 50%.
• Cứ 5 năm làm 1 lần.
3) Soi ruột bên trái (Sigmoidoscopie)
• Chỉ coi được một phần ruột già, 2/3 không coi được, mức độ khả tín khoảng 35%.
Không nên làm vì không đủ bảo đảm.
4) Liên kết
chụp hình ruột già và soi ruột bên trái:
• 2 thứ bổ túc lẫn nhau, mức độ khả tín khá cao, cỡ 80%.
• 5 năm làm một lần.
5) Soi ruột ảo (colonoscopie virtuelle):
Rửa sạch ruột, bơm barium rồi chụp bằng scan:
Mức độ khả tín rất cao (60% - 92%) nhưng xin hẹn rất lâu. Làm tư tốn 500$00.
Mỗi 5 năm làm một lần.
6) Soi ruột bằng máy quay phim nhỏ (capsule endoscopique)
• máy quay phim nhỏ cỡ đầu ngón tay út
• bệnh nhân nuốt máy sau khi rửa ruột
• khi ra khỏi hậu môn, nó được cho vào máy điện toán để coi hình.
• Mức độ khả tín 70%.
• Nếu không thấy ung thư: không bảo đảm là không có bệnh.
• Thấy ung thư lại khó biết chính xác vị trí của nó.
• Rất đắt tiền.
7) Soi ruột thông thường (colonoscopie conventionnelle)
Rửa ruột thật sạch
Chích gân 2 thứ thuốc giảm đau và giảm lo (Fentanyl, versed)
Để máy soi dài (1 mét 8) vào hậu môn đẩy từ từ 10 cho đến 20 phút là xong.
• Nếu thấy bướu thịt thì cắt bằng kìm hay vòng điện)
• Nếu thấy ung thư:
- làm sinh thiết,
- chích mực tầu để đánh dấu chỗ bị bệnh, thử máu, làm scan, gừi đi gặp bác sĩ giải phẫu.
• Nghe soi ruột, mọi người đều sợ, sự thật rất dễ và đơn giản, thường thì việc rửa ruột là khổ nhất
(đau bụng, ói mửa, cả đêm trong nhà tắm) nhưng chụp hình, soi ruột ảo cũng phải rửa ruột như vậy.
• nếu lỡ chụp hình thấy bướu thịt hoặc ung thư
• thì bắt buộc phải soi ruột theo phương pháp thông thường, tức là lại phải rửa ruột lần thứ hai
• vì vậy nếu cần soi ruột thì quý vị CỨ BÌNH TĨNH MÀ LÀM, đừng sợ gì cả, đừng có nghe thiên hạ hù dọa.
IV. KẾT LUẬN
• Ung thư ruột rất nhiều, thường không có triệu chứng gì, nên cần phải tìm và phát hiện bệnh sớm.
Có nhiều phương pháp để tìm bệnh, tốt nhất là soi ruột
Nếu không có người nhà bị bệnh, nên soi ruột từ tuổi 50.
Nếu ruột bình thường, 10 năm sau mới cần soi lại.
Nếu có người nhà bị ung thư ruột, nên soi ruột sớm hơn, nếu bình thường cứ 5 năm soi ruột một lần
Nếu đã bị mổ
• vì ung thư ruột già
• hoặc đã được cắt bướu thịt, cần phải soi ruột định kỳ để theo dõi
Tốt nhất là cứ tiếp tục với bác sĩ chuyên môn của mình.
Trân trọng cám ơn quý vị
Bs Nguyễn Thanh Bình
Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2011
Câu hỏi 275 : Tu Đốn Ngộ và Cách Đốn Bệnh (Hiểu Đạo Nhanh Nhất, Chữa Bệnh Nhanh Nhất)
Con kính chào Thầy!
Con tình cờ may mắn biết được trang web của thầy, rất nhiều người như con cảm thấy như tìm thấy ánh sáng mặt trời trong bóng tối, chúng con biết ơn, trân trọng những việc thầy đang làm cho xã hội, nhất là những người Việt. Con nhờ thầy chỉ giúp con.
Tình trạng sức khỏe:
Áp huyết trước khi ăn :
tay trái : 106 – 67 - 78 (lần 1), 107 – 67 - 85 (lần 2)
tay phải: 109 – 68 - 74 (lần 1), 104 – 67 - 85 (lần 2)
Sau khi ăn :
tay trái : 108 – 65 – 87 (lần 1), 106 – 61 - 87 (lần 2)
tay phải: 107 – 61 - 86 (lần 1), 105 – 59 - 88 (lần 2) .
Cảm giác gan bàn tay và gan bàn chân thường lạnh.
Đi cầu thường hay bị nát.
Con năm nay 30 tuổi, nữ giới, sống tại Việt Nam, khoảng 2 năm gần đây sức khỏe của con rất kém, con liệt kê một số bệnh con mắc phải nhờ thầy chỉ giáo giúp con xem con bị bệnh gì? Và cách chữa ạ? khoảng 6 năm về trước đây con bị ngộ độc thức ăn nên bị bệnh đường ruột, sau đó thì khỏi hẳn được vài năm gần đây. Gan bàn chân con lạnh, con thường xuyên bị đau đầu có khi tuần nào cũng bị một hai ngày, khổ nhất là hay bị viêm họng rồi chuyển sang viêm mũi dị ứng, viêm xoang cấp, nghẹt mũi và ngược lại, một năm con bị mấy lần, mỗi lần có khi kéo dài tới hàng hai tháng, con thường xuyên ngủ không sâu giấc, hay mê, hay bị bóng đè, ăn uống không ngon, hay bị đầy bụng, đi phân nát nhiều lần trong ngày, mấy tháng gần đây kinh nguyệt con rất thất thường (trước đây con không bao giờ bị như thế) con rất khổ sở với những căn bệnh của mình, con đã phải uống nhiều thuốc kháng sinh, nhưng con rất sợ vì biết nó cũng có rất nhiều tác dụng phụ. Mấy hôm nay con lại bị mỏi, đau vùng thắt lưng. Ngồi rất mỏi. Con cũng không biết là mình mắc bệnh gì nữa, cứ chữa xong chứng bệnh này thì chứng bệnh khác lại xuất hiện và hành hạ con. Con rất hoang mang và tuyệt vọng, kính mong thầy cứu giúp con.
Con kính nhờ thầy bớt chút thời gian chẩn đoán và điều trị cho con. Con kính mong thư trả lời của thầy. Con tạ ơn thầy. Con kính chúc thầy sức khỏe.
Trả lời :
Trước hết chúng ta hãy nghe lời kể của cụ Lương Văn Hiền 81 tuổi, bị bệnh ung thư phổi, ung thư gan, rối loạn tiêu hóa, người gầy nhom, sắp chết khi các giáo sư bác sĩ đã bó tay. Nhờ Phật Pháp, cụ đã đốn ngộ (hiểu Đạo) và biết cách tự chữa bệnh bệnh rất đơn giản mà trong 1 tuần đã khỏi bệnh, khỏe mạnh như người bình thường, đó là cách tự đốn bệnh của cụ.
http://www.youtube.com/watch?v=ghknaEs9b_s&feature=related
Môn Khí Công Y Đạo chỉ cho các bệnh nhân một phương pháp đốn ngộ (hiểu được chữ Đạo là chữ thứ tư trong 4 chữ Khí-Công-Y-Đạo, là con đường đưa đến sự hiểu biết nguyên nhân bệnh tật và biết cách tự chữa.
Đốn Ngộ là hiểu nhanh nhất, đơn giản nhất là tất cả các nguyên nhân bệnh tật trong cơ thể đều do thiếu khí và thiếu máu, hay dư thừa khí và dư thừa máu. Muốn biết thừa hay thiếu KCYĐ đã đưa ra bảng tiêu chuẩn áp huyết theo tuổi :
Đây là bảng tiêu chuẩn áp huyết theo loại tuổi theo kinh nghiệm của khí công y đạo :
95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.
(5 tuổi-12 tuổi)
100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)
110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)
120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)
KCYĐ cũng đã giải thích hậu qủa của bệnh thiếu máu trong bài :
Câu hỏi 213 : Hậu qủa của thiếu máu áp huyết thấp.
Nếu những ai có áp huyết thấp chưa đúng tiêu chuẩn mà không bổ máu tập luyện khí công, cứ nhờ bác sĩ hay thây thuốc giải thích nguyên nhân bệnh, đòi hỏi phải chữa bệnh này sang đến bệnh kia mà vẫn biết rằng chữa hoài không khỏi bệnh, giống như tu đường vòng, hỏi hết nghĩa của kinh sách này đến kinh sách khác mà Đạo vẫn chưa chịu thực hành, đối với bệnh mà không hiểu Đạo là con đường hiểu biết về bệnh tật nhanh nhât là Khí Huyết, dư hay thiếu đều làm ra bệnh, nếu không hiểu nguyên nhân khí-huyết thì không bao giờ chữa dứt bệnh được.
Cho nên, nếu thiếu máu thỉ bổ máu, thiếu khí thì tập luyện, cho đến khi áp huyết lên đủ thì mọi bệnh đều biến mất, giống như cụ Lương Văn Hiền vậy.
Sau đó muốn hiểu thêm chữ Đạo trong môn Khí Công Y Đạo, hãy từ từ nghiên cứu các bài viết và video bài giảng sẽ biết nguyên nhân của các bệnh tật cũng chưa muộn.
Kể từ nay những bệnh nhân nào hỏi bệnh đã có trong trang nhà thì hãy nghiên cứu cách tự chữa bằng phương pháp đốn ngộ và đốn bệnh. Có nghĩa là hiểu nguyên nhân thì cần thực hành liền mỗi ngày và theo dõi áp huyết mỗi ngày lúc nào cũng nằm trong tiêu chuẩn thì không sợ bệnh tật thuộc thân bệnh. Cần tu hành để giải nghiệp bệnh, bố thí, làm lành lánh dữ, không sát sinh, không tham lam trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không rượu chè cờ bạc, sẽ ít bị bệnh tật.
Thân
doducngoc
Thứ Năm, 15 tháng 9, 2011
Câu hỏi 274 : Ung Thư Lưỡi .
Thưa Thầy Đỗ Đức Ngọc!
Cho Con xin hỏi Thầy vấn đề sau, mong nhận sự giúp đỡ của Thầy.
Ba của Con bị ung thư lưỡi (theo kết quả sinh thiết của bệnh viện Ung Bướu Tp.HCM ngày 05/08/2011). Bệnh viện họ nói là nếu Ba Con đủ sức khỏe, họ sẽ làm hóa trị, nhưng ba con thì không dám làm vì nghĩ rằng sức khỏe mình không đủ sức để làm hóa trị.
Hiện tại Ba con đang bị lưỡi sưng đỏ, loét ở đầu lưỡi, giữa lưỡi có vết loét như rảnh nước. Ba Con rất đau lưỡi, rát lưỡi, đau đầu, ăn uống vô cùng khó khăn, dường như Ba con không buồn ăn uống thứ gì. Bây giờ Con không biết làm sao để cải thiện tình hình này. Mỗi lần đau Ba con cứ ôm đầu và rên la. Nhà con như bế tắc, mặc dù có đang điều trị như uống kháng sinh, giảm đau và chuyền nước. Bên cạnh đó uống sinh tố nha đam+mật ong, uống nấm linh chi+táo đỏ, thuốc nam cắt ở nhà chùa. Nói chung người ta chỉ gì nhà con làm theo vậy.
Con kính mong nhận được thư trả lời giúp đỡ của Thầy.
Con xin tạ ơn.
Con chúc Thầy sức khỏe.
Mặc dù Thầy nói gởi thông tin hỏi bệnh ở địa chỉ khác, nhưng con mong được sự ban ơn của Thầy lần này, nên Con đã mạo muội gởi cho Thầy, mong Thầy giúp Con với. Như mail lần trứơc Con có gởi Thầy, Thầy nói cần gởi các chi tiết.
Đây là chi tiết con gởi Thầy xem bệnh tình của Ba Con giúp đỡ cho gia đình Con với.
Hiện tại Ba con rất đau họng, lưỡi, nuốt nước bọt còn rất khó khăn nữa, huống chi là ăn, nhà Con không bết làm sao.
Giới tính: Nam
Tuổi: 65
Số đo áp huyết ở 2 cánh tay trước và sau khi ăn 30 phút vào hai bữa ăn chính, lấy cả 3 số:
Ngày 15/09/20111
Trước ăn sáng:
Tay trái 134/85mmHg 82 Tay phải 142/82mmHg 79
Sau ăn sáng vì bị đau nhiều trên đầu quá nên người nhà của Con lo chườm nóng, quên đo huyết áp.
Sau ăn trưa:
Tay trái 150/95mmHg 83 Tay phải 153/93mmHg 81
Cảm giác bàn tay chân và trán nóng hay lạnh: các lần đo ấm. Đi cầu bón hay tiêu chảy: đi cầu bón
Con cám ơn Thầy nhiều.
Trả lời :
Ung thư lưỡi do thân bệnh bởi ăn uống sai lầm, ăn nhiều chất cay nóng, bao tử không tiêu, tích chứa nhiều nhiệt độc xông lên họng, theo áp huyết là gan nhiệt do mẹ nó là thận thủy suy yếu, trong khi chức năng của thận đưa nước lên lưỡi nuôi lưỡi tiết ra nước đã không còn khả năng bảo vệ lưỡi, nên lưỡi bị tích nhiệt bầm đỏ sưng lở loét dộp lưỡi.
A-Chữa Thân Bệnh theo Tinh-Khí-Thần :
Về Tinh :
1-Miệng lưỡi lở :Hắc Sâm Hoàn
Ra tiệm thuốc bắc mua những vị thuốc sau đây, đem về nhà tự bào chế lấy :
Huyền Sâm, Thiên Môn, Mạch Môn, mỗi vị 40g, tán xay ra bột, trộn với một ong làm thành 12 viên. Mỗi ngày 2 lần sáng, tối, mỗi lần ngậm trong miệng 1 viên cho miệng tiết ra nước, nuốt dần, không uống nước.
Nếu thấy có công hiệu muốn ngậm tiếp cho khỏi hẳn thì tiếp tục mua thêm thuốc làm lại lần thứ hai.
2-Họng sưng lở loét, các loại mụn nhọt độc :Qua đế tán
Ra tiệm thuốc bắc mua Qua Đế 40g tán xay thành bột hòa với Dầu Mè bôi vào vết thương, hay mụn lở làm đau. Trị tất cả các chứng ung nhọt độc, ung thư.
3-Kiêng ăn những thức ăn cay nóng, kiêng rượu.
4-Cuối tuần thứ bẩy và chủ nhật : Tối uống Trà Phan tả Diệp 10g pha với 1 ly nước sôi, để xổ nhiệt độc trong gan. Nếu ở cửa hàng thuốc Dân Tộc có bán thuốc viên thì mua thuốc viên, tối uống 3-5 viên.
Về Khí :
1-Tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần, ngày 4 lần, sáng. tối và sau 2 bữa ăn 30 phút.
2-Dùng 5 đầu ngón tay gõ vào hai bên chân tai 200 lần trong lúc cuốn lưỡi lên hàm trên để kích thích thận tiết nước miếng ra giải nhiệt cho lưỡi. Mỗi ngày gõ 2 l ần.
B-Chữa Nghiệp Bệnh :
Bệnh ung thư còn là một nghiệp bệnh do cái lưỡi đã gây ra nay phải chịu qủa báo đau đớn khổ sở, cái lưỡi bây giờ cần phải biết ăn năn sám hối theo Tinh-Khí-Thần :
Về Tinh :
Cần phải ăn chay, giữ 5 giới : Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.
Về Khí :
Cần phải bắt lưỡi đọc ra tiếng để chức năng lưỡi được phục hồi, và lưỡi phải nói những lời lành bằng cách đọc tung Kinh Sám Hối :
http://thegioivohinh.com/diendan/showthread.php?t=23792
Về Thần :
Tối trước khi đi ngủ 30 phút, nằm để tay lên Đan Điền Tinh, ngậm miệng, đọc niệm danh hiệu Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát bằng lưỡi, khi lưỡi chảy ra nước miếng, thì da mặt lưỡi sẽ lành, lưỡi sẽ tươi nhuận trở lại.
Chữa Nghiệp Bệnh sẽ có kết qủa nhiều hơn là chữa Thân Bệnh, lúc đó bệnh ở Thân sẽ không bị tái đi tái lại.
Thân
doducngoc
Câu hỏi 273 : Bệnh mất ngủ 7 năm do thiếu máu.
(Bài được chọn đăng của Thường Nhân)
Đầu thư con xin chúc thầy luôn được dồi dào sức khỏe
Con có người bạn nữ năm nay 33 tuổi bị bệnh mât ngủ đã 7 năm nay,ngày nào cũng phải uống thuốc ngủ mới ngủ được, ngủ không sâu, hay mơ màng nằm thấy ác mộng,ngủ chỉ được 2-3 tiếng,còn không có thuốc thì thức trắng cả đêm, ngày cũng không ngủ được , rất mệt mỏi , thường xuyên bị tiêu chảy,bị mệt, khó thở ,chóng mặt nhức đầu , bị xỉu vài lần phải đưa vô bệnh viện nói áp huyết tuột cho chích thuốc vô nước biển mới đỡ mệt. Người lúc nào cũng nóng , tay chân trán toàn thân đều nóng.
Sau đây là áp huyết :
trước khi ăn : tay trái : 113/80 mạch đập 92, tay phải : 103/75 mạch đập 85
Sau khi ăn: Ăn chay ( hôm nay rằm ) ăn cơm với canh rau dền rau ngót với mướp, nấm rơm đậu hủ, 2 quả cà chua ăn sống
Tay trái : 92/68 mạch đập 92, tay phải : 95/70 mạch đập 101
Nhờ thầy xem và hướng dẫn chữa giúp cần ăn uống và tập luyện ra sao, xin cám ơn thầy rất nhiều.
tringuyen
Trả lời :
Những triệu chứng kể trên nguyên nhân chính là do thiếu khí huyết gây nên. Áp huyết của bệnh nhân trên là AH giả. AH thực sự trước khi ăn là tay trái: 91/80/70. tay phải: 88/75/70 nếu lấy mạch đập trung bình cuả người trung niên là :110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi).
Sau khi ăn: Ăn chay ( hôm nay rằm ) ăn cơm với canh rau dền rau ngót với mướp, nấm rơm đậu hủ, 2 quả cà chua ăn sống
Tay trái : 92/68 mạch đập 92, tay phải : 95/70 mạch đập 101
Chứng tỏ chức năng bao tử yếu, chuyển hóa thức ăn không được tốt.
Cách điều chỉnh Tinh- Khí -Thần:
TINH:
1-Cần phải tiếp máu, uống hay chích B12 với truyền nước biển. Uống sirop Đương Quy Tửu trước bữa ăn để giúp bao tử chuyển hóa thức ăn được tốt.
2-Ăn uống những thức ăn có chất bổ máu, những chất làm tăng dương, tăng khí lực. Nếu ăm chay thì vào mục Giải Nghiệp Bệnh cầu Ơn trên giúp đỡ, trở thành đệ tử của pháp môn Mật Tông để có phương tiện tu tập vừa giúp mình vừa có thể giúp người.
3-Kiêng ăn những chất chua hàn lạnh làm mất máu, mất hồng cầu.
(bỏ Khổ qua ra khỏi thành phần ăn)
4--Uống nước trà gừng mật ong, trà quế gừng mật ong, trà bạch quả (ginkgo) hay thuốc bổ ống Ginkgo để thanh lọc máu, tăng cường oxy cho máu, giúp phục hồi chức năng thần kinh não bộ cho tỉnh táo, tăng cường chức năng tạng phủ làm việc đồng bộ, giảm đau, an thần, ngủ ngon.
KHÍ:
-Tập bài Nạp Khí Trung Tiêu sau khi ăn 30p, tập 3 lần. Trong khi Nạp Khí Trung Tiêu nhờ người nhà bấm kéo móc 2 huyệt Ế Phong( lỗ lõm dưới 2 tai).
Tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 50 lần sau mỗi bữa ăn 30 phút, ngày ăn 6 lần thì tập 6 lần, giúp cơ thể tăng tính hấp thụ và chuyển hóa chất bổ của thức ăn thành máu đỏ, loại bỏ độc tốn nhanh theo đường tiêu tiểu, sẽ không bị táo bón hay tiêu chảy, bài tập này làm da tươi nhuận hồng hào, mềm mại. Nếu sau khi tập, áp huyết xuống thì tập lại bài Nạp Khí Trung Tiêu để làm tăng áp huyết lên trở lại.
-7 bài đầu khí công để phục hồi chức năng thần kinh.
-Bài Vỗ Tay 4 Nhịp 100 lần tăng tăng oxy cho tim phổi.
-Bài Cúi Ngửa 4 Nhịp 20 lần để cung cấp máu lên nuôi não.
-Bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 50 lần sau đó ngậm miệng giữ khí
THẦN:
Tối trước khi đi ngủ 30 phút, nằn tập thở thiền ở Đan Điền Thần.
Đặt nhẹ bàn tay phải lên mỏm xương ức nơi Đan Điền Thần, tay kia đặt chồng lên trên, thả lỏng vai. Cuốn lưỡi ngậm miệng, nhắm mắt, thở bằng mũi bình thường giống như lúc đang ngủ, chỉ cần cho bộ óc làm việc theo dõi bụng phồng lên xẹp xuống theo hơi thở tự nhiên, cách này gọi là theo dõi hơi thở, danh từ chuyên môn gọi là Quán Tức (quan sát hơi thở), không những quan sát hơi thở còn theo dõi để ý khí huyết chuyển động trong bụng như sôi bụng, bụng nóng ấm, bàn tay rịn mồ hôi, khí chạy từ ngực, từ bao tử, từ gan chạy xuống bụng dưới….
Cần theo giỏi AH mỗi ngày đễ xem tiến triển
Kính thư: Thuongnhan
Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2011
Bài 426 : Hội Chứng Hư Thận. Phân biệt với chứng cẳng chân to theo tây y .
A-Hội chứng hư thận ở người lớn :
Theo tây y những kết qủa xét nghiệm máu :
Về Albumin-niệu, protid-huyết, lipid-huyết, cholesterol-huyết, triglycérid-huyết lọt ra ngoài tiêu chuẩn kèm theo một số dấu hiệu bệnh như :
Albumin-niệu nặng trên 3g/24 tiếng và Albumin-huyết dưới 30g/lít , hậu qủa tốc độ lắng máu rát nhanh
Protid-huyết giảm dưới 60g/lít
Alpha 2 Globulin tăng
Lipid-huyết tăng hơn 15g/lít
Cholestyerol-huyết và Triglycérid- huyết tăng
Hội chứng hư thận chia 2 loại :
1-Loại Hư Thận Đơn Thuần :
Không làm tăng áp huyết, không có huyết niệu vi thể, không có dấu hiệu nào chứng tỏ hư thận, ngoài việc xét nghiệm máu, và phú chân.
2-Loại Hư Thận Không Đơn Thuần :
Có huyết-niệu vi thể, có dấu hiệu suy thận làm tăng áp huyết, do những nguyên nhân nhân như :
a-Viêm thận tiểu cầu mạn thường gặp nhờ sinh thiết thận để phân biệt các loại khác nhau như:
Thoái hóa kính từng đoạn, viêm thận tiểu cầu "ngoài- màng",, "màng tăng sinh"...
b-Việm thận do bệnh tiểu đường nước tiểu có đường bởi bệnh thận tiểu cầu kèm với thoái hóa kính hoặc xơ cứng tiểu cầu thận hội chứng Kimmelstiel-Wilson do giải phẫu thấy được như ống thận bị dầy lên phát triển những cục trong mao mạch màng.
c-Thoái hóa dạng tinh bột.
d-U tủy, bệnh chu kỳ làm đau bụng thường kèm theo thoái hóa dạng tinh bột ở thận.
e-Lupus ban đỏ rải rác ở phụ nữ trẻ, hoặc do viêm da cơ, viêm quanh động mạch có cục.
f-Ban xuất huyết dạng thấp ở thanh niên.
g-Do ngộ độc thuốc, liệu pháp huyết thanh, vaccin
h-Huyết khối tĩnh mạch thận.
i-Hội chứng hư thận cận ung thư.
B-Hội chứng hư thận ở trẻ em từ 2 đến 8 tuồi thường gọi là "Hư thận mỡ":
Dấu hiệu phù khi có khi không và hư thận thường là đơn thuần, không có tăng áp huyết, không có huyết niệu vi thể, không có dấu hiệu suy thận. Khi xét nghiệm máu có :
Albumin-niệu rất nhiều trên 50mg/kg/24 tiếng.
Protid-huyết giản dưới 60g/lít, Albumin-huyết giảm dưới 30g/lít, Alphà Globulin tăng, Gamma globulin giảm, Tốc độ lắng máu nhanh.
Biến chứng có thể :
-Bị nhiễm khuẩn, đau bụng viêm tụy cấp, viêm màng bụng do phế cầu khuẩn, thủng tạng rỗng như bao tử, ruột, tắc mạch do huyết khối trong sâu ở động mạch não hay phổi, giảm natri-huyết
C-Chứng cẳng chân to :
1-To cả hai cẳng chân :
a-Nhìn thấy cẳng chân bị phù, nguyên nhân có thể do :
Tim, thận trong hội chứng hư thận, do xơ gan, do thiếu dinh dưỡng giảm protein-huyết, do phình tĩnh mạch, rối loạn sau viêm tĩnh mạch, phù do tư thế đứng lâu bới rối loạn tính ngấm của mao mạch, phù theo chu kỳ như chu kỳ kinh nguyệt, do viêm mô tế bào (có hay không có dấu hiệu đò tím trên da), phù niêm trước xương chày do tăng năng tuyến giáp, phù do phản ứng phụ của thuốc tây y và phù do uống nhiều nước không được chuyển hóa..
b-Do chèn ép khung chậu :
-Trong bệnh u xơ tử cung, u nang buồng trứng, ung thư niệu-sinh dục, hoặc ung thư trực trường, ung thư tuyến tiền liệt, và do hậu của uống nước vói số lượng lớn mà không được chuyển hóa.
c-Chèn ép tĩnh mạch chủ :
Trong bệnh khối u hoặc do hạch.
d-Phù bạch huyết di truyền hay phù do dinh dưỡng được phát hiện gần tuổi dậy thì, và ở bệnh Milroy là một loại bệnh phù mãn tính, có dấu hiệu chân phù trắng, cứng, không đau, ở vị trí từng khúc. Phù dinh dưỡng riêng lẻ do dị dạng ở mạch bạch huyết.
2-To một cẳng chân :
a-Phù cấp tính :
Do viêm tĩnh mạch : nổi mầu xanh đen, viêm động mạch, phù do thiếu máu cục bộ, đứt cơ sinh đôi trong, vỡ u nang kheo.
Cẳng chân to đỏ có sốt do liên cầu khuẩn : do viêm quầng, viêm mạch bạch huyết, viêm bạch huyết tái nhiểm, viêm mô tế bào-bạch huyết cộng với phù do viêm.
Phù voi giun chỉ, do liên cầu khuẩn. như u nấm làm chân phù thật do thâm nhiễm có nhiều ổ loét sù sì và rỗ, sẽ chết người nếu không cưa bỏ chân kịp.
b-Phù mãn tính :
Cẳng chân to sau viêm tĩnh mạch kém với phình tĩnh mạch-di chứng.
Chèn ép tĩnh mạch chậu, u ở hố chậu nhỏ, hoặc chèn ép tĩnh mạch chậu trái do động mạch chậu gốc phía bên[phải ở phụ nữ trong khoảng tuổi 30-40, chèn ép kheo do cơ dép.
Chèn ép mạch bạch huyết ở tam giác Scarpa, do ung thư xâm lấn, di chứng nạo hạch, liệu pháp cobalt chữa ung thư tử cung.
Loạn sản tĩnh mạch ở hội chứng Klippel-Trénaunay được phát hiện ở tuổi trẻ có một chân phì đại ở xương, phình tĩnh mạch và u mạch phẳng, kém với chi dài ra, phình tĩnh mạch ngoài cẳng chân.
Phù bạch huyết bẩm sinh ở một chân sau tuổi dậy thì tưởng là bong gân hoặc viêm khớp mắt cá.
Bệnh Kaposi thuộc bệnh máu ác tính ở đàn ông khoảng 40-60 tuổi có những mảng u mạch đỏ bấm máu tái xanh lẫn những hòn, nấm trong da ở phần da lành hoặc da u mảng có hòn cứng nằm trong da, thương tổn này bắt đầu ở đầu ngón chân lan ra khắp người và trong tạng phủ đưa đến tử vong từ 2-10 năm trong bệnh cảnh suy mòn, thiếu máu hoặc chảy mất máu mà hiện nay chưa xếp loại nhiễm khuẩn hay ung thư.
Thân
doducngoc
Câu hỏi 272 : Áp huyết đúng tiêu chuẩn, tại sao bướu mỡ không đau vẫn phát triển trên da đầu.
Con chân thành cám ơn thầy và cả nhà!
thanhcao
Trả lời :
Thầy thuốc đã quên rằng nguyên nhân gây bệnh theo đông y do khí-huyết-đàm có 3 trường hợp :
Khí hay huyết thiếu thuộc hư chứng, khí hay huyết thừa thuộc thực chứng, và khí hay huyết bị tắc do đàm (lipid-huyết không chuyển hóa) thì dù áp huyết có đúng tiêu chuẩn hay không.
Gốc bệnh do đàm phát sinh từ hệ thống tiêu hóa yếu kém, do ăn uống và chuyển hóa không đúng, tạo ra đàm bướu, còn ngọn bệnh là bướu đã thành hình do đường dẫn khí và huyết bị tắc.
a-Chữa tiêu gốc ngăn ngừa không cho bướu phát triển thêm, áp dụng điều chỉnh Tinh-Khí-Thần :
Tinh : Không được ăn uống những chất hàn lạnh như cam, sữa, dầu mỡ, kem, đậu xanh, khổ qua, nước dừa, nhiều chất bột, đường...
Nên ăn những chất cay ấm như gừng, tiêu, tỏi, hành.
Khí : Sau khi ăn 30 phút tập bài Nạp Khí Trung Tiêu và bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng.
Thần :
Trước khi đi ngủ 30 phút tập lại 2 bài trên, rồi nằm tập thở thiền ở Đan Điền Thần giúp tăng thân nhiệt, tăng nhiệt lượng cho cơ thể chuyển hóa.
b-Chữa ngọn làm tan bướu::
Tinh :
Dùng thuốc uống làm tan bướu : Quế chi phục linh tán
Đan bì, Phục Linh, Đào nhân, Quế chi, Bạch Thược, mỗi thứ bằng nhau 8g, tán bột, chia ra làm 4 gói, mỗi tối uống 1 gói với nước nóng, mỗi tuần 5 ngày. Hai tối còn lại, dùng Trà hay thuốc viên Phan Tả Diệp (3 viên) uống trước khi đi ngủ để sáng hôm sau đi cầu xổ ra chất độc trong gan, trong máu, làm tiêu tan bướu mỡ.
Khí :
Tập 7 bài đầu khí công, rồi tập bài Cúi Ngửa 4 Nhịp kích thích máu lên đầu thông máu não.
Châm nặn máu nơi nào có bướu, rồi đắp gừng giã lên trên bướu băng dính lại để lâu 12 giờ..
Khi gỡ bỏ cao gừng, tập lại 7 bài đầu, bài Cúi Ngửa 4 Nhịp, rồi day Hà Đồ Lạc Thư trên đầu.
Áp dụng trong nhiều ngày khi bướu thu nhỏ hay biến mất thì ngưng,
Thần :
Tập như ở trên.
Thân
doducngoc
Bài 425 : Thói quen ăn nhạt, ăn mặn, uống nước nhiều mất muối làm thay đổi Natri-huyết sẽ bị bệnh gì ?
Khi thử máu để tìm bệnh, không bị thiếu máu, áp huyết đúng tiêu chuẩn, mà cơ thể vẫn bị mệt mỏi, co cơ, buồn ngủ đờ đẫn như hôn mê, phải nghỉ ngay đến dấu hiệu bệnh do Natri-Huyết thay đổi bất bình thường.
A- Hậu Qủa Khi Ăn Nhạt Lâu Ngày :
Cơ thể thiếu muối, nếu thử máu có lượng Natri-huyết giảm dưới tiêu chuẩn 135mEq/lít hay 135mmol/l sẽ bị bệnh như :
Không đói, chán thức ăn, ói mưa, kiệt sức, lẫn tâm thần, thiếu muối nặng sẽ bị co giựt cơ và hôn mê
Giảm thẩm thấu huyết tương, tăng ngấm nước tế bào rối loạn ở não và ở thận.
B-Hậu Qủa Khi Ăn Quá Mặn Do Thói Quen :
Khi thử máu có lượng Natri-huyết cao hơn 145mEq/lít sẽ bị bệnh như :
Ý thức u ám, lẫn tâm thần, hôn mê, tăng áp lực thẩn thấu ở người có bệnh tiểu đường, người già, những người điều trị bằng corticoid, tạo ra phản ứng người cứng ngắt và sốt.
Tăng áp lực thẩm thấu huyết tương, mất nưóc tế bào gây rối loạn não, giảm niệu và tăng ure-huyết, có khả năng bọc máu dưới màng cứng.
C-Nguyên Nhân Làm Natri-Huyết Giảm :
Làm cơ thể thiếu Natri do chế độ ăn nhạt khắt khe hoặc do chữa trị bệnh thận sai làm thoát natri trong bệnh viêm thận, bể thận, thận đa u nang.
Khi mất qúa nhiều muối làm cơ thể vã mồ hôi, ra đàm nhớt trong ói mửa do hút bao tử và ruột, do lỗ dò tiêu hóa, do tiêu chảy nhiều, hoặc do tình trạng tắc ruột, hay phỏng nặng.
Những người lạm dụng thuốc lợi tiểu, đa số những người dùng thuốc lợi tiểu trong chữa bệnh cao áp huyết, chữa bệnh bí tiểu
Những người bị bệnh thận như suy thượng thận thì natri-huyết giảm, kali-huyết tăng.
Bệnh thận với thoát mất muối trong bệnh viêm bể thận mạn
Trong những bệnh ung thư phế quản với tế bào nhỏ, ung thư tụy, u tuyến ức, sacrom-lưới, bệnh phổi cấp. lao phổi.
D-Nguyên Nhân Làm Natri-Huyết Tăng :
Cơ thể dư thừa muối do chế độ ăn uống sai hoặc do trong điều trị sai :
Thừa muối hoặc thừa natri-hydrocarbonate
Do bệnh tiêu chảy, ói mửa, hút bao tử, giãn bao tử, tắc ruột, vã mồ hôi, thở nhanh.
Do mất nước ngoài thận trong bệnh tiểu nhiều gọi là đa niệu thẩm thấu, bệnh tiểu đường, và do dùng thuốc lợi tiểu.
Do truyền dung dịch ưu trương, truyền ure, nước tiểu trắng nhạt do thận hư.
E-Nguyên Nhân Uống Nước Nhiều Hay Ít :
Nước uống vừa đủ không nên uống nhiều hoặc uống ít cũng đều gây ra bệnh làm Tăng hay Giảm Natri-Huyết:
1-Làm Giảm Natri-Huyết Do Thừa Nước :
Bởi uóng nhiều nước, hoặc thừa dung dịch Glucoza trong lúc ăn nhạt không có muối, nhất là sau khi phẫu thuật lại cho uống nước trong khi có suy thận, tiểu ít hoặc bí tiểu, càng làm cho cơ thể dư nước khiến natri giảm thấp gây co giựt hôn mê, ngoài những dấu hiệu sưng phù chân, giảm trí nhớ, hay quên.
Trong bệnh xơ gan mà dùng thuốc lợi tiểu, trong hội chứng hư thận, suy tuyến giáp.
Đa số những người tây phương, và những người Việt Nam bắt chước theo tây y có thói quen uống nước nhiều mục đích tưởng là để lọc thận, nhưng thực tế qua thống kê xét nghiệm y khoa lâm sàng thì trái lại nó làm cho chức năng thận hư phải bị lọc thận, làm liệt cơ ruôt mất chức năng co bóp làm ung thư ruột, sưng tuyến tiền liệt, giảm trí nhớ, lú lẫn lớn tuổi bị bệnh mất trí nhớ
2-Làm Tăng Natri-Huyết Do Thiếu Nước :
Những người già, trẻ còn bú, người bệnh liệt giường, người khó nuốt,.. thường không theo dõi kỹ để họ bị thiếu nước làm tăng Natri-huyết sinh ra bệnh co cứng gân cơ, cắn chặt hàm hay không mở miệng lớn được.
Lưu ý những thầy chữa bệnh theo phương pháp Khí Công Y Đạo lúc nào cũng khám định bệnh bằng máy đo áp huyết, máy đo đường, và súng nhiệt kế laser Thermo-Flash đo trên huyệt, đo lưỡi, theo dõi khí huyết, âm-dương, hàn-nhiệt để tìm ra bệnh thuộc khí hay huyết.
Cơ thể thiếu khí oxy, hay thiếu khí chuyển hóa huyết thì có thể tập khí công để chuyển hóa huyết dễ dàng làm cho các xét nghiệm máu lọt vào tiêu chuẩn được.
Nhưng bệnh thuộc huyết như thiếu máu, thiếu nước hay dư làm ra bệnh thì phải biết để hướng dẫn bệnh nhân điều chỉnh lại cách ăn uống thuộc Tinh, như thìếu máu phải ăn uống những chất bổ máu, thiếu muối, calci, đường cần phải ăn cho đủ, nếu dư thừa cần ăn bớt lại.
Vì đa số những trường hợp tự nhiên bệnh nhân có cơn co giựt nhẹ, lú lẫn tâm thần, chuột rút do thiếu calci, thiếu đường, dư nước..., ít có ai để ý đến nguyên nhân này, vì bệnh nhân không thử máu hoặc các bác sĩ không định bệnh đúng, nếu những bệnh chữa lâu không khỏi vì không đúng nguyên nhân gốc đều được chuyển qua cho các bác sĩ chuyên môn dẫn đến điều trị sai lầm không cần thiết, vì những bệnh này rất thông thường mà chúng ta hay gặp.
Thân
doducngoc
Bài 424 : Năm nguyên nhân Bệnh Cao Áp Huyết Thường Xuyên theo tây y, và cách chữa hiện tại đã chữa vào đúng nguyên nhân chưa ?
Bệnh Cao Áp Huyết Thường Xuyên là căn bệnh nan y của thời đại chưa giải quyết được dứt bệnh, phải dùng thuốc suốt đời có lẽ do cách chữa chưa đúng vào nguyên nhân gốc bệnh ở từng người theo đúng những gì đã nghiên cứu về nguyên nhân bệnh của tây y.
Dưới đây là những nguyên nhân được thống kê trong ngành y khoa tây y :
A-Ngoại nhân :
Từ nguyên nhân ăn uống :
Do dùng cam thảo trong kẹo ngậm, do thuốc ngừa thai, do dùng corticoid, thuốc trầm cảm, thuốc LDopa, lạm dụng thuốc co mạch bơm xịt vào mũi chữa nghẹt mũi...
Những thức ăn làm giảm Kali-huyết, giảm Nati-niệu, tăng Kali-niệu, thuốc bổ xương calci là tăng calci-huyết, ăn nhiều chất bổ dư thừa ít vận động đẻ chuyển hóa..
Để xác định được bệnh cao áp huyết, tây y phải khám tim, động mạch, đáy mắt, chức năng thận.
Đối với đông y tương đưong với bắt mạch khám chức năng tim, tâm bào, gan, thận. Bốn tạng này bệnh sẽ gây ra bệnh áp huyết.
B-Nội nhân :
Tây y phải xét nghiệm chính xác về uré-huyết, ctréatinin, ion đồ máu, ion đồ nước tiểu, thử glucoza-huyết, lipid-huyết, acid uric-huyết, xét nghiệm nước tiểu như protein, cặn Addìs, vi khuẩn học, điện tâm đồ, chụp X-quang ngực, X-quang đường niệu, tiêm tĩnh mạch với phim chụp sớm để nhận ra được sự chậm bài tiết, định lượng nước tiểu...
Từ đó phát hiện được 5 nguyên nhân sau đây :
1-Nguyên nhân hẹp động mạch chủ :
Mạch đùi yếu, trên hình phim X-quang thấy sước sườn-ngực.
2-Nguyên nhân bệnh thận :
Bệnh thận tiểu cầu khi thử protein niệu, huyết niệu và vi mô.
Bệnh thận kẽ :nhờ thử protein niệu khám phá ra suy thận, tồn thương đường niệu.
Dị dạng thận một bên, thận ứ nước, ứ mủ, teo thận.
Tổn thương hai bên thận, ứ nước, sạn thận, lao xơ sau màng bụng, thận đa u nang.
3-Nguyên nhân hẹp phình động mạch thận : nghe có tiến thổi cạnh rốn và kết qủa chụp X-quang động mạch.
4-Nguyên nhân bệnh nội tiết :
Tăng năng tuyến giáp, tăng áp huyết tâm thu, u tuyến vỏ thượng thận, nội sinh giảm kali-huyết, tăng kali-niệu, nhiễm kiềm chuyển hóa, giảm natri-niệu.
Tăng áp huyết kịch phát hoặc thường xuyên làm vã mồ hôi, tim đập nhanh liên tục, dễ bị kích thích, bệnh Bướu cổ Basedow giả. giảm áp huyết ở thể đứng.
5-Nguyên nhân do bệnh động mạch :
Như vữa động mạch, xơ cứng thận lành tính.
Chúng ta nhận thấy những thuốc điều trị bệnh cao áp huyết hiện nay không chữa đúng vào nguyên nhân, ngược lại hậu qủa phản ứng phụ của thuốc lại làm tăng nguyên nhân tạo ra bệnh cao áp huyết làm rối loạn nhịp tim mạch suy thận thêm, vẫn dẫn đến những hậu qủa tai biến mạch máu não, giảm trí nhớ, ung thư tuyến tiền liệt, thận ứ nước, suy thận, tăng năng tuyến giáp.
C-Cách chữa theo KCYĐ :
Phương pháp chữa bằng khí công là làm tăng tính hấp thụ và chuyển hóa, điều chỉnh chức năng nội tiết quân bình âm dương, mạnh chức năng tuần hoàn tim mạch, mạnh thận bẳng những bài tập đều có tác dụng chữa vào 5 nguyên nhân này về cách điều chỉnh 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần.
Vì trên thế giới chưa ai biết cách tự chữa bệnh bằng phương pháp khí công và được giải thích nguyên nhân hậu qủa của bệnh cặn kẽ như KCYĐ, và những công dụng của mỗi bài tập tương đương với những loại thuốc điều trị được mọi bệnh tật.
Hoặc theo lý thuyết mà KCYĐ dẫn giải có thể tin được nhưng vì bản tính lười tập luyện mất nhiều công hơn là uống thuốc, dù biết rằng thuốc không chữa hết bệnh, âu cũng là nghiệp bệnh.
Do đó lời nhắn nhủ với các thầy khí công, khi bệnh nhân cần đến mình và tuân theo lời hướng dẫn siêng năng tập luyện thì mới nên chữa, nếu không sẽ không có kết qủa chỉ làm mất thời giờ của cả bệnh nhân và thầy chữa bệnh. Cho nên đã có một vị thiền sư gọi những bệnh của con người là bệnh ma.
CÔNG ĐỨC CHƯẢ BỆNH
Công đức tu thiền chữa bệnh ma
Chữa xong người ấy đến phiên ta
Thực thi Bồ Tát đừng kêu xá
Bắt chước Phật Thầy giúp bá gia
Bố thí vì người không vị Ngả
Làm ơn bởi tiếng phát tâm tà
Thường cầu giải thoát ma không phá
Sinh tử,Niết bàn quyết chẳng xa .
mbz.md.11'
Thân
doducngoc
Bài 423 : Chẩn đoán bệnh do calci-huyết tăng hay giảm, bệnh do ăn uống và chuyển hóa. Cách chữa bằng KCYĐ.
Theo tây y khi xét nghiệm máu, có kết qủa lượng calci-huyết trung bình từ 95mg/lít hay 2,3mmol/l đến 105mg/lít hay 2.6mmol/l.
Nếu dưới tiêu chuẩn được chẩn đoán là calci-huyết giảm, trên tiêu chuẩn được chẩn đoán là calci-huyết tăng.
Như vậy nguyên nhân nào làm lượng calci-huyết thay đổi và những dấu hiệu bệnh để biết trước.
A-Dấu hiệu lâm sàng :
a-Giảm calci-huyết :
Calci-huyết giảm có dấu hiệu xuất hiện các cơn co cứng cơ, tạng co giựt, có bàn tay co chụm lại tây y gọi là bàn tay đỡ đẻ, hoặc với hiện tượng co giựt và lẫn tâm thần. Nếu ăn uống thêm những chất tăng Kali như lạm dụng thuốc lợi tiểu, sẽ làm giảm calci-huyết nhiều lại làm tăng đường trong máu, làm co giựt cơ càng nặng thêm và làm rối loạn tim mạch có thể gây tử vong.
Về mặt thực phẩm, có loại nghèo Kali như bơ, đường, mật ong, pho mát, bánh mì, trứng...
Thức ăn tương đối giàu Kali như thịt, cá, rau quả tươi, nước quả ép, chocolate, rau, quả khô, chè búp, chuối, mơ...
b-Tăng calci-huyết :
Thường khát uống nước nhiều và tiểu nhiều, giảm trương lực cơ, ngủ gà, ý thức u ám, lẫn tâm thần, chán ăn, buồn nôn, ói mửa, đau thượng vị, ngứa, tim đập nhanh.
B-Nguyên nhân :
a-Giảm calci-huyết :
Thường gặp ở những bệnh suy tuyến cận giáp, hoặc sau khi cắt bỏ tuyến giáp, truyền qúa nhiều máu cócitrate, viêm tụy cấp tính, bệnh suy thận, còi xương, còi xương, nhuyễn loãng xương. Ở trẻ sơ sinh do thiếu Vit.D hoặc ruột hấp thụ kém làm co cứng cổ, tay chân co giựt, co thắt thanh quản.
b-Tăng calci-huyết :
Thường gặp ở bệnh tăng năng tuyến giáp, vỏ xương bị ăn mòn thường ở đốt cuối ngón tay và xương dài, có dạng xơ rỗ ở bộ xương, gẫy xương đột ngột do uống nhiếu calci mà cơ thể không hấp thụ nên vẫn có bệnh xốp loãng xương dễ gẫy, hoặc nếu không calci không được hấp thụ và chuyển hóa sẽ kết ủa thành sạn calci thận.
Trong cơ thể tự nhiên tăng calci-huyết thường gặp trong những bệnh ác tính như di căn vào xương, bệnh ung thư vú, ung thư thận, phổi, tuyến tiền liệt, tuyến giáp, tuyến thực quản, đa u tủy. Ngộ độc do lạm dụng Vit.D cũng làn tăng calci-huyết do thuốc.
Hội chứng Burnett là hội chứng ở những người uống nhiều sữa và lạm dụng thuốc trị bệnh khó tiêu, thuốc trị loét bao tử, ruột, và cali-huyết tự nhiên tăng ở những người nằm bất động lâu ngày không cử động.
C-Cách chữa bằng Khí Công :
Sau khi nghiên cứu các loại bệnh theo tây y về nguyên nhân và dấu hiệu bệnh, thì tất cả các bệnh phát sinh ra đều do lạm dụng thuốc, ăn uống sai lầm và thiếu luyện tập vận động giúp cơ thể chuyển hóa để làm mạnh chức năng hấp thụ và chuyển hóa của hệ tiêu hóa và bài tiết.
Nên ưu điểm của môn khí công chữa bệnh rất cần thiết để bổ sung cho ngành y khoa chính thống để giải quyết được nhiều bệnh nan y, giữ được quân bình về khí-huyết qua máy đo áp huyết ở hai tay và hai cổ chân trong.
Từ đó chọn các bài tập khí công thích hợp để điều chỉnh lại áp huyết tăng hay giảm, giúp cho những chất điện giải trong cơ thể phù hợp để chuyển hóa các ion âm-dương, các chất đường, muối, mỡ, vôi, được cân bằng âm dương mà tây y gọi là cân bằng acid và base.
Vì thế bất cứ bệnh gì cũng phát xuất tử tiêu hóa, từ thức ăn đúng, đủ theo nhu cầu và phải được chuyển hóa bằng những bài tập khí công thường là bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng và bài Nạp Khí Trung Tiêu sau mỗi bữa ăn 30 phút, và được kiểm chứng bằng máy đo áp huyết mỗi ngày đều lọt vào bảng áp huyết theo tiêu chuẩn tuổi của khí công, cơ thể sẽ không bao giờ bị bệnh tật.
Thân
doducngoc
Bài 422 : Dấu hiệu bệnh “Cảm Giác Kiến Bò Đầu Ngón Tay Chân” dẫn đến nhiều cách chữa sai lầm của tây y. Cách chữa theo Khí Công Y Đạo.
Phần một :
Theo tây y chia làm hai loại :
A-Loại cảm giác kiến bò ở một bên thân :
1-Gọi là cơn cảm giác Jackson có cảm giác khởi từ một điểm ở bàn tay, bàn chân, ở nửa mặt thoáng qua vài phút, rồi đến môi.
2-Bệnh đau nửa đầu migrain.
3-Nếu dấu hiệu thường xuyên tái đi tái lại do hẹp động mạch cảnh.
4-Thường xuyên có cảm giác kéo dài hơn, thuộc bệnh xơ cứng rải rác do bướu não hay tổn thương mạch, bệnh trong vỏ não, đồi não, thân não, rối loạn thực thể mất nhận thức, mất cảm giác.
5-Trong bệnh hội chứng ống cổ tay, thường phải mổ, có dấu hiệu kiến bò, đau và teo cơ trong vùng dây thần kinh giữa 3 hoặc 4 ngón tay đầu, hoặc 3 ngón tay giữa, đau khi ấn vào giữa cổ tay.
6-Hội chứng khe ngực-cổ, cánh tay, xương sườn-cổ, động mạch dưới đòn ăn cắp máu động mạch.
B-Loại cảm giác kiến bò ở hai bên thân :
1-Khởi phát của bệnh viêm đa rễ thần kinh, viêm đa dây thần kinh do thuốc, hoặc bệnh thần kinh do bệnh tiểu đường.
2-Xơ cứng tủy thần kinh hỗn hợp do thiếu máu, rối loại cảm giác sâu và dấu hiệu tháp.
3-Xơ cứng rải rác hai bên thân
4-Chẻn ép tủy sau ở lưng, ở cổ hoặc ở lỗ chẩm như u màng não, u thần kinh
5-Hội chứng ống thắt lưng hẹp.
6-Tạng co giựt có hay không có cơn .
7-Giảm Kali-huyết nhiễm kiềm
8-Dị cảm đau ban đêm ở bàn tay ở phụ nữ trung niên lìên quan đến đau cổ tay 2 bên hay đau cột sống cổ.
9-Ngộ độc do thuốc điều trị của tây y.
Trên đây là thống kê những bệnh có liên quan đến dấu hiệu .“Cảm Giác Kiến Bò Đầu Ngón Tay Chân”, được giảng dạy trong trường y khoa tây y..
Do đó xét nghiệm trên lâm sàng, tây y chuyên khoa đã có nhiều cách chữa khác nhau vào gốc bệnh dẫn đến những sai lầm gây nhiều đau khổ cho bệnh nhân phải mổ chỗ này chỗ khác, cuối cùng “Cảm Giác Kiến Bò Đầu Ngón Tay Chân “ vẫn còn mà thân phải mang tật suốt đời. .
Phần hai : Cách chữa theo Khí Công Y Đạo :
Theo đông y-khí công. Bệnh của cơ thể cũng chia làm ngoại nhân và nội nhân.
Ngoại nhân :
Do thời tiết thuộc Khí, do ăn uống thuốc men thuộc Tinh, do ngoại cảnh và môi trường làm thay đổi tâm tính, định kiến thuộc Thần.
Thí dụ như tê tay chân, đau nhức mỏi mỗi khi thời tiết thay đổi, thuộc Khí, đông y gọi là phong thấp hàn, phong thấp nhiệt, do phong hàn, phong nhiệt, táo hàn táo nhiệt…
Tê nhức mỏi tay chân do ăn uống thuộc Tinh, như ăn cải xanh, khổ qua, rau rút… làm tê lạnh nhức tay chân.
Bệnh thuôc Thần vì định kiến sai lầm, vì sở tri kiến chấp, không tin ở những điều như thức ăn hay khí hậu làm ra bệnh, và không tin ăn uống có thể chữa được bệnh, nên cứ phạm phải sai lầm không theo quy luật đông y là những bệnh này nên ăn gì, kiêng ăn gì, khiến cho bệnh không khỏi mà trở thành bệnh nặng, chỉ tin vào tây y, bảo uống thuốc thì uống, bảo mổ thì mổ, dẫn đến những phản ứng phụ nguy hiểm cũng đành chịu.
Nội nhân :
Là bệnh phát sinh trong cơ thể do 3 yếu tố theo đông y là Khí-Huyết-Đàm
Khí, trong cơ thể là chức năng hoạt động của lục phủ ngũ tạng, là sự thở, sự làm việc co bóp của phổi, tim, gan, bao tử, lá lách, ruột, thận, bàng quang …để trao đổi khí, để trao đổi máu..Khi Khí bệnh có 3 trường hợp là khí thiếu, khí dư, khí tắc.
Huyết, trong cơ thể được áp lực khí đẩy đi nuôi tế bào khắp cơ thể, có 4 trường bệnh là huyết thiếu, huyết dư, huyết ứ tắc và huỳết bị hỏng do nhiễm độc hay thiếu khí oxy.
Đàm, trong đông y nói chung bao gồm chất bột lipid, chất béo chất đạm protein từ thức ăn không đủ điều kiện chuyển hóa thành dạng lỏng hay thể hơi mà biến thành đặc gọi là đàm mỡ, tây y gọi là glycérid, cholesterol…những chất này kết hợp với calci dư thừa mà cơ thể không hấp thụ sẽ làm thành bướu mỡ, thành sạn gan mật, sạn thận bàng quang, làm tắc nghẽn những ống dẫn máu, những sợi thần kinh làm chúng bị xơ hóa.
Cho nên khi cơ thể có bệnh, dưới cách nhìn khám, định bệnh theo đông y-khí công đều xét đến 3 yếu tố Khí-Huyết-Đàm từ đâu đến là tìm gốc bệnh, ở chức năng hay cơ sở nào, trong tình trạng thiếu, thừa, ứ tắc, từ đó cách chữa thay thuốc là điều chỉnh lại Tinh-Khí-Thần, thì đối với tây y chỉ áp dụng có thuốc thuộc Tinh, nếu không khỏi thì mổ xẻ, không có phần điều chỉnh Khí-Thần
“Cảm Giác Kiến Bò Đâu Ngón Tay Chân” dưới cách tìm bệnh của KCYĐ là Khi-Huyết-Đàm được khám bằng máy đo áp huyết để tìm Khí-Huyết thiếu hay thừa hay ứ tắc. có 3 trường hợp dựa theo bảng áp huyết tiêu chuẩn của khí công theo tuổi :
95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)
100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)
110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)
120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên) :
1-Áp huyết thấp ở một tay, dưới tiêu chuẩn tuổi theo khí công :
Thí dụ, áp huyết tiêu chuẩn :120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
Nhưng khi đo có một bên thấp chỉ 100/70-80mmHg mạch 70-80, trường hợp này áp huyết bên nào thấp thì nửa đầu bên đó bị đau gọi là bệnh migrain.
Ngược lại áp huyết thấp nhưng mạch một bên cao hơn hay thấp hơn tiêu chuẩn như :
100/70-80mmHg nhịp mạch 90-100, sờ đầu ngón tay nóng, hỏi bệnh nhân thì không có bị đau đầu một bên, trường hợp này khi đo áp huyết sẽ bị nhồi hai lần, điều đó chứng tỏ tắc nghẹt ống dẫn máu ra đến đầu ngón tay do đàm, cholesterol, nên khi châm nặn máu 5 đầu ngón tay, rồi đo lại áp huyết sẽ trở lại bình thường,
Ngược lại áp huyết thấp và mạch cũng thấp như :
100/70-80mmHg mạch 60-65, ngoài tê đầu tay như kiến bò, tay còn lạnh và không có sức, vô lực, nhưng không đau nửa đầu, mà do hàn lạnh bởi thời tiết hoặc ăn uống chất hàn lạnh tạo ra tình trạng đàm, cholesterol làm nghẹt ống máu, co rút teo thần kinh gân cơ không dẫn máu ra tay, cũng châm nặn máu nhưng máu không có để thoát ra đầu tay, cần phải vuốt 5 đường kinh tay để thông khí và huyết, rồi tập bài Vỗ Tay 4 Nhịp cho khí mạnh đẩy máu ra tay.
Cả hai trường hợp này, tây y tìm thấy tổn thương xơ hóa thần kinh rải rác làm đau nên cho uống thuốc giảm đau, vì xơ hóa rải rác nhiều chỗ không thể mổ được, nhưng nếu đau có chỗ như ở giữa cổ tay, khi chụp hình thấy, thì mổ cổ tay, còn chụp hình thấy xương cổ thoái hóa, xơ hóa, thì mổ ở xương sống cổ và lưng....
Đã có những bệnh nhân đã mổ sau 1 năm ở cổ, lưng hoặc cổ tay, cái đau và cảm giác kiến bò còn nguyên, đến khí công xin chữa bệnh được khỏi cho đến nay, các bệnh nhân này đã tiếc không biết đi đến với môn KCYĐ sớm để khỏi bị mổ oan mang tật.
Cách đây hơn 10 năm, một cô bệnh nhân khai bệnh chóng mặt kinh niên, chỉ nằm mà không ngồi được lâu 1-2 phút, đã từng đi khám chữa nhiếu năm không khỏi, cuối cùng bệnh nhân được gửi đi bác sĩ chuyên khoa, kết qủa chụp hình cho biết bệnh chóng mặt của cô do thoái hóa khớp xương cổ gáy, xơ hóa thần kinh cột sống, và cho cô biết rằng nếu không mổ kịp sẽ bị tê liệt.
Sau khi mổ, bệnh tê đầu tay và chóng mặt càng ngày càng nặng thêm, trước khi chưa mổ cô còn đi đứng ngồi nằm với thời gian lâu, được, còn đi làm được, sau khi mổ thi không ngồi lâu được vì chóng mặt, nên mất việc, xin bác sĩ đã mổ cột sống chứng nhận cô còn chóng mặt để được hưởng tiền trợ cấp mất việc, bác sĩ bào bệnh chóng mặt là cô giả vờ, vì so sánh hai 2 tấm phim chụp xương cổ gáy, lúc trước các đốt xương bị thoái hóa chèn ép thần kinh não tủy, bây giờ các đốt xương cổ gáy và lưng trở lại bình thường không còn chèn ép thần kinh, nên không thể nào còn bệnh chóng mặt được.
Khi chồng cô dẫn cô đến tôi chữa, khi khám cũng tìm ra những điều tây y đã biết, nhưng khi chữa, KCYĐ không xem việc thoái hóa thần kinh gân cơ rải rác hay thoái hóa những xương sống cổ lưng làm chèn ép là gốc bệnh, chỉ xét theo 3 yếu tố Khí-Huyết-Đàm.
Thứ nhất cơ thể không đủ máu lên đầu làm chóng mặt, thứ hai do đàm là cholesterol kết tủa nghẹt ống dẫn máu, thứ ba cơ thể không vận động để đủ khí thúc đẩy máu tuần hoàn.
Cơ thể không đù máu lên đầu, tôi hướng dẫn bệnh nhân dùng bài khí công cào đầu, vuốt cổ gáy, chà tai, xoa mặt, bài Cúi Ngửa 4 Nhịp đưa máu lên nuôi não, nằm ngửa bấm hai huyệt Ế Phong. Châm nặn máu 5 đầu ngón tay. Hướng dẫn bệnh nhận Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng chậm 50 lần, rồi tôi bảo cô ngồi lên, cô trả lời, cô sợ ngồi lắm, sẽ chóng mặt quay cuồng. Tôi trả lời, tôi đo áp huyết đã lên rồi, mặt cô hồng hào rồi, cô cứ ngồi lên để tôi biết còn bệnh chóng mặt hay không mới chữa tiếp được chứ. Cô nghe theo, từ từ ngồi dạy, không chóng mặt, đi được một mình không cần phải nhờ chồng dắt.
Tôi hướng dẫn cô về nhà uống thêm thuốc B12, tập 7 bài đầu khí công, Cúi Ngửa 4 Nhịp, Vỗ Tay 4 Nhịp, khoảng 3 tháng sau áp huyết cô lên đủ và đếu hai tay, hết chóng mặt, hết cảm giác tê tay kìến bò, và cô đã đi làm trở lại...
2-Áp huyết cao ở một tay hơn tiêu chuẩn tuổi theo khí công.
130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên) :
Có một bệnh nhân nữ đến khai bệnh, đêm ngủ bị đau tê bàn tay ngón tay ở trường hợp 8 trong bài :
8-Dị cảm đau ban đêm ở bàn tay ở phụ nữ trung niên lìên quan đến đau cổ tay 2 bên hay đau cột sống cổ.
Bà đi khám. bác sĩ cho biết bà thuộc bệnh Mal Formation Chiari, cần phải mổ cột sống vì thần kinh tủy bị chèn ép, nếu không mổ sau 3 tháng khi các ngón tay tê cứng thì sẽ bị liệt.
Tôi đo áp huyết bên tay trái bình thường 130-140mmHg, bên tay phải cao từ 150-160mmHg, như vậy ai cũng có thể biết cảm giác kiến bò đầu tay là do nghẽn cholesterol làm căng tắc ống mạch máu ra đầu ngón tay, nên 5 đầu ngón tay tê cứng, cảm giác kiến bò, vì tây y không đo áp huyết bên tay phải, chỉ đo bên tay trái, nên qủa quyết bệnh không do áp huyết.
Tôi châm nặn máu 5 đầu ngón tay rồi bấm bẻ gập các lóng đốt ngón tay ép sát vào lòng bàn tay để làm giãn mạch, mền ngón tay, và cho máu ở mỗi đầu ngón được ép cho máu chảy ra, lúc đó bà hết cảm giác kiến bò ở đầu ngón tay, đo lại áp huyết xuống còn 130mmHg. Cứ mỗi tuần bà đến tái khám một lần. Nhưng khi đi bệnh viện tái khám, bác sĩ hối thúc đi mổ vì chụp xương cổ gáy thấy có những đốt cột sống bị chèn ép, nếu không mổ sẽ tê liệt, gia đình bà, chị em cùa bà là bác sĩ cũng hối thúc đi mổ. Bà hỏi ý kiến tôi. Tôi bảo bà nên hỏi bác sĩ mổ có bảo đảm sau khi mổ có khỏi hết bệnh kiến bò tê tay không. Bà nhiều lần tranh cãi với bác sĩ và cho tôi biết, tổn thuơng thoái hóa xương cổ gay thì phải mổ còn tê đầu tay như kiến bò thì không bảo đảm, nhưng không mổ sẽ bị tê liệt.
Đến một năm sau bà trở lại tôi và nói bác sĩ lại kêu mổ nữa. Tôi bảo bà hỏi lại bác sĩ xem, trước kia ông nói 3 tháng sẽ tê liệt, đến nay 1 năm tôi vẫn bình thường.
Vài tháng sau, bà đến cho hay, bác sĩ bảo, nếu không mổ, ông sẽ xếp hồ sơ, sau này tê liệt thì không mổ được nữa, bà lại xin ý kiến tôi.
Tôi bảo tùy bà, nhưng bà hỏi bác sĩ cho bà biết một vài bệnh nhân giống bệnh tê đau ngón tay như bà đã mổ rồi để bà liên lạc với họ xem bệnh cảm giác kiến bò làm tê đau tay ban đêm không ngủ được của họ đã khỏi sau khi mổ hay chưa. Bà bảo bác sĩ không cho, ông ấy giận, và mấy người em bác sĩ của bà cũng giận la bà không chịu đi mổ, tại sao cứ đi chữa theo khí công làm gì cho mất thời giờ...
Tôi nói với bà. mỗi người có một nghiệp bệnh, để tùy duyên, nhưng nhớ rằng vẫn cần phải tập khí công đều đặn giữ cho áp huyết hai tay đều lọt vào tiêu chuẩn thì không sợ bị tê liệt, vì bà cũng đã thấy nhiều bệnh nhân đã mổ cột sống, mổ cổ tay vài năm sau cũng đã trở thành bệnh nhân đến với khí công đã được khỏi bệnh.
3- Áp huyết cao ở cả hai tay làm hai tay đều có cảm giác kiến bò.
Theo kinh nghiệm của khí công, "cảm giác kiến bò đầu tay" do áp huyết cao vừa do cholesterol trong ống máu làm nghẽn tắc tuần hoàn ra đế đầu tay, khiến cho áp huyết tăng đủ sức đẩy máu tuần hoàn nuôi các tế bào.
Đối với khí công trường hợp này còn nhẹ chỉ cần châm nặn máu 5 đầu ngón tay, rồi bấm bẻ các khớp lóng ngón tay cho khi huyết thông ra đầu ngón tay đẩy máu chảy rịn ra làm thông kinh mạch, sau đó tập bài Vỗ Tay 4 Nhịp cho thông khí huyết. Cuối cùng đo lại áp huyết sẽ xuống bình thường, và muốn ổn định áp huyết lâu dài, cần tập cả cách thở thiền ở huyệt Khí Hải Đan Điền Tinh trước khi đi ngủ 30 phút.
Trường hợp bệnh nặng hơn, ngoài đau tê kiến bò đầu ngón tay, còn bị đau cổ gáy vai, nhức đầu... đã đề cập trong nhiều bài trước không thuộc phạm vi bài này.
Thân
doducngoc
Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011
Bài 421 : Năm điều thường sai phạm trong chữa bệnh tiểu đường sẽ gây hôn mê tê liệt, khi thử đường glucoza-huyết xuống dưới 3.6mmol/l. Và cách chữa bệnh Tiểu đường theo KCYĐ.
Nhiều bệnh nhân đang uống thuốc trị bệnh tiểu đường nên lưu ý luôn luôn cần thử độ đường buối sáng khi bụng đói và buổi tối sau khi ăn.
Tiêu chuẩn an toàn khi bụng đói từ 6.0-8.0mmol/l vào buổi sáng.
Tiêu chuẩn sau khi ăn 2 giờ, đo vào buổi tối từ 8.0-12.0mmol/l
Glucoza-huyết tăng ngoại sinh từ thức ăn, chúng ta có thể kiểm soát được những thực phẩm để ăn kiêng, để làm cho glucoza-huyết không tăng.
Tuy nhiên ngoài việc ăn kiêng làm giảm glucoza-huyết, chúng ta còn dùng thuốc làm giảm glucoza-huyết hằng ngày, và đừng ỷ lại vào thuốc, tin tưởng rằng chúng ta sẽ không sợ bệnh tiểu đường tăng. Nhưng có ngờ đâu cơ thể thiếu đường làm glucoza-huyết giảm làm hôn mê bất tỉnh gây tê liệt..
Bài này đề cập bệnh thiếu đường do glucoza-huyết giảm dẫn đến nhiều hậu qủa tai hại.
A-Hậu Qủa của cơ thể thiếu đường, đo đường dưới 3,6mmol/l :
1-Hôn mê do giảm glucoza-huyết có dấu hiệu co cứng hàm, vã mồ hôi, co giật.
2-Nếu không hôn mê nhưng có dấu hiệu động kinh, liệt nửa người, liệt một chi, liệt mặt. loạn vận ngôn, rối loạn thị giác, liệt vận nhãn, song thị nhìn một hóa hai, có thể mù.
3-Rối loạn tâm thần kịch phát, lú lẫn, như say rượu giả, ảo giác, vật vã, xung động, nói năng không mạch lạc, có hành vi trẻ con, giảm tự trọng.
4-Tim đập nhanh, đánh trống ngực, lo âu, nhức đầu, chóa mắt, ù tai, cơn đói cồn cào, mệt lả, run người, tâm trạng thay đổi dễ bị kích thích.
Tất cả những dấu hiệu này ở mỗi bệnh nhân khác nhau.
B-Nguyên Nhân :
1-Giảm glucoza-huyết do sử dụng insulin qúa liều, hoặc đã dùng insulin làm giảm đường, mà bỏ bữa ăn làm đường huyết hạ thấp thêm, hay vận động chân tay qúa sức làm tiêu hao đường trong máu.
Như vậy chứng tỏ những người vận động mạnh làm tiêu hao đường trong máu thì họ cần đường nuôi cơ bắp mà không sợ bị bệnh tiểu đường.
2-Do những thuốc chữa như suy thận, thuốc chống đông máu, tức là thuốc làm loãng máu cũng làm hạ đường, như vậy uống nhiều nước, hay ăn những chất chua làm mất máu, loãng máu cũng làm hạ đường trong máu.
3-Ngộ độc nấm, ngộ độc rượu, say rượu cũng làm hạ đường
4-Do bệnh u tuyến tụy, tuyến yên, u sọ hầu, suy thượng thận, khối u trong bụng, ngực, sau màng bụng, trong chậu (bụng dưới), ung thư bao tử, gan, xơ gan, ruột.
5-Giảm glucoza-huyết ở người đã cắt bao tử từ 6-12 tháng sau khi mổ, sẽ cảm thấy khó chịu từ 1-3 tiếng sau khi ăn nếu lượng glucoza-huyết giảm.
6-Phản ứng cơ thể tăng tiết nhiều insulin trong trường hợp ăn nhiều.
7-Do lo âu, dễ xúc cảm, người hay bị co giựt, người lao động nặng qúa sức, hoặc do thần kinh phế-vị nhạy cảm hoặc chức năng điều chỉnh làm tăng đường trong máu suy kém.
D-Cách chữa theo Khí Công Y Đạo :
Qua những xét nghiệm của tây y, lượng đường trong máu (glucoza-huyết) tăng hay giảm lệ thuộc vào hai yếu tố ngoại nhân và nội nhân :
a-Ngoại nhân :
Do ăn thức ăn có đường làm tăng đường trong máu, còn không có đường do ăn kiêng làm giảm đường trong máu, và bỏ bữa không ăn cũng làm giảm đường trong máu.
b-Nội nhân :
Do cơ thể có bệnh tổn thương cơ sở tạng phủ như gan, tỳ, thận, ruột.. .làm rối loạn chuyển hóa tăng hay giảm lượng đường không phải do ăn uống, lúc đó mới cần thiết để tìm gốc bệnh mà điều trị.
Trong bài “Tỉnh Mạch Cửa Tăng” hay gọi là “Phình Tĩnh Mạch Cửa”, lấy tay đè trên rốn cảm giác được dưói rốn như có một khối u cứng dài từ dưới rốn lên bụng giữa, ấn vào đau, đó là tĩnh mạch cửa, liên quan đến ống dẫn máu vào gan và lá lách, khi tĩnh mạch cửa tăng, sờ thấy được ngay dưới rốn, nó sẽ gây ra rối loạn tiêu hóa, làm sưng ứ huyết trong gan tỳ gọi là sưng lách, sưng gan, hoặc máu trong gan tỳ thoát ra làm teo gan, teo lách, gây ra rối loạn áp huyết khi đo lúc cao lúc thấp, nếu thấy áp huyết cao cho dùng thuốc hạ áp hay áp huyết thâp cho dùng thuốc tăng áp là sai, đo áp huyết khi dùng ngón tay ấn đề ở rốn, đo 10 lần khác nhau cả 10 lần, khi cao khi thấp cả 3 số, nhưng đo đường không thay đổi.
c-Cách chữa :
Ấn đè vào rốn sâu 3-5cm, giữ lâu trong suốt thờI gian bệnh nhân tập bài Kéo Ép Gối vào sát bụng, thổi hơi ra miệng, thả lỏng bụng mềm xẹp, tập thử 60 làn làm mềm khốI u, tĩnh mạch cửa giảm, Đo đường trước khi tập ở một bệnh nhân là 10.1mmol/l, sau khi tập đo lại còn 8.1
E-Nguyên nhân khác theo kinh nghiệm của KCYĐ.
Ít có ai để ý nguyên nhân gây hôn mê do hạ đường huyết mà những người bị bệnh tiểu đường thường phạm phải 5 sai lầm cùng một lúc sau đây :
Sai lầm thứ nhất : Uống thuốc trị tiểu đường khi đường đã vào tiêu chuẩn, là đã làm hạ đường lần thứ nhất..
Điều này do tây y bắt buộc dùng thuốc đều đặn suốt đời .
Thay vì lượng đường theo tiêu chuẩn khi bụng đói từ 6.0-8.0mmol/l, nhưng hiện nay những người có lượng đường từ 7.0-8.0mmol/l các bác sĩ đã cho dùng thuốc trị tiểu đường, sau khi uống thuốc đường xuống còn trong khoảng 5.0 đến7.0
Sai lầm thứ hai : Kiêng ăn đường trong khẩu phần ăn, làm hạ đường trong máu lần thứ hai..
Kiêng ăn đường trong khẩu phần ăn, làm cơ thể không có đủ đường nuôi cơ bắp. Làm lượng đường trong máu xuống thấp. Thí dụ sau khi ăn, người không có bệnh tiểu đường khi đo đường lên từ 8.0-10.0 là tốt, sau khi ăn 4 giờ đo lại lượng đường xuống bình thường 6.0-8.0mmol/l. Ngược lại, đối với người bị bệnh tiểu đường, sau khi ăn đo lại đường vẫn nằm trong tiêu chuẩn như khi bụng đói từ 6.0-8.0mmol/l .
Sai lầm thứ ba : ăn uống thêm những chất hạ đường, làm hạ đường glucoza-huyết lần thứ ba.
Vì cứ sợ đường lên, ăn thêm thức ăn mát như đậu xanh, hoa cúc, khổ qua, sữa Hạnh Nhân, trà Sơn Tra, nước Lá Dứa, nước Nha Đam, ….và uống nhiều nước chanh, nước lạnh..vô tình làm hạ đường lần thứ ba. Nếu chịu khó đo đường sau khi uống, sẽ thấy đường xuống còn 4.0-5.0mmol/l.
Sai lầm thứ tư : Cố ý ăn ít hoặc thỉnh thoảng bỏ ăn một bữa làm glucoza-huyết giảm lần thứ tư.
Vì sợ tiểu đường do nhiều người cho rằng vì ăn nhiều, nên thỉnh thoảng bỏ đi một bữa ăn, khiến cơ thể mất năng lượng là mất đường huyết thêm. Bình thường khi bụng đói thử đường là 6.0-8.0mmol/l, nhưng đã uống thuốc còn 5.0mmol/l, cơ thể lại bị bỏ đói một bữa ăn. khiến mất năng lượng làm đường sẽ xuống 4.0mmol/l
Sai lầm thứ năm : Thể dục thể thao hay vận động nặng quá sức cũng làm cho glucoza-huyết giảm thấp lần thứ năm.
Ai cũng biết người có bệnh tiểu đường là người không vận động cơ thể để làm tiêu hao năng lượng, trở nên dư thừa mới bị bệnh cao áp huyết và tiểu đường. Như vậy có nghĩa là vận động mạnh qúa sức cũng làm hạ đường huyết, cho nên những người có bệnh tiểu đường cần phải tập vận động thường xuyên hoặc tập thể dục thể thao thì sẽ chuyển hóa thay đổi được lượng đường trong máu, làm cho glucoza huyết hạ.
Trong năm điều này có thể làm hạ đường lọt vào trong tiêu chuẩn an toàn nên cần phải đo đường để kiềm soát lượng đường khi muốn áp dụng phối hợp với những cách trên
Nếu dùng thuốc là phải dùng suốt đời gây ra nhiều biến chứng.
Nếu uống nước mát làm hạ đường hay bỏ bữa ăn thì mất năng lượng cho cơ thể.
Vận động qúa sức thì ngày có ngày không, không ổn định lượng đường.
Còn cách hay nhất vừa tăng năng lượng, vừa điều chỉnh chức năng điều hòa khí huyết cho tạng phủ hoạt động đồng bộ không bệnh tật chì có tập thể dục thể thao, hay tập khí công đều đặn là một vị thuốc tự nhiên bằng khí không gây hại cho cơ thể.
Những nhà thể thao, phu khuân vác, đạp xích lô là những người có vận động mạnh làm cơ thể xuất mồ hôi, giảm năng lượng làm áp huyết và đường trong máu hạ, sau đó họ uống bù lại nước, cơ thể họ lúc nào cũng khỏe mạnh không có bệnh áp huyết, tiểu đường, cholesterol.
Những người bị bệnh tiểu đường sở dĩ phải uống thuốc là những người không biết vận động hay thể thao là gì, nên đa số những người có bệnh tiểu đường mà chúng ta thấy được là những người ham ăn nhiều mà lười tập luyện.
Nhưng chớ bao giờ lạm dụng cả năm phương pháp trên để chữa bệnh tiểu đường.
Nhớ rằng khi cơ thể cảm thấy khó chịu, cần phải đo đường hay đo áp huyết ngay tức khắc để biết nguyên nhân làm mệt, mất sức do tụt áp huyết hay tụt glucoza-huyết xuống thấp, nếu xuống thấp cả hai, cần phải uống ngay một ly nước nóng pha 1 củ gừng giã, với 2 thìa đường, để cầm giữ áp huyết, giữ thân nhiệt và làm tăng glucoza-huyết, nếu không kịp, sẽ đi vào hôn mê do đường thấp dưới 3.6mmol/l, có triệu chứng bủn rủn tay chân, mệt lả, đau quặn bụng, vã mồ hôi, mất ý thức, tê liệt mặt, rối loan lời nói, thiếu oxy trong não làm mờ mắt, chóng mặt, ù tai và té ngã tổn thương sọ não dẫn đế tử vong không phải do tai biến mạch máu não mà do tai biến thiếu đường trong máu, glucoza-huyết xuống dưới 3.6mmol/l.
Trước khi bị tai biến do thiếu đường, bệnh nhân đã thường có dấu hiệu không muốn cử động do chân tay vô lực, hay buồn ngủ, ngủ say mê mệt, lúc đó đo đường sẽ dưới 4.0mml/l, nếu không cho uống nước đường mà đi nằm ngủ bỏ ăn bữa tối, dến sáng đường xuống đến 3.0mmol/l bệnh nhân đi vào coma là trạng thái hôn mê sâu, mất oxy trong não, mất tỉnh táo, mất ý thức, mắt mất thần, mất tri giác có thể chết.
Khi tôi giảng đến hậu qủa của bệnh thiếu đường trong máu, nhiều bệnh nhân tiểu đường cũng đã có kinh nghiệm trải qua, nên bây giờ họ cũng đã tự đo đường để.biết cách làm ổn định lượng đường, vừa tập luyện thể dục khí công, vừa ăn thêm những chất ngọt đề giữ quân bình lượng đường trong máu luôn luôn khi đói từ 6.0-8.0mmol/l, sau khi ăn từ 8.0-10.0mmol/l, được như vậy chúng ta sẽ không còn sợ bệnh tiểu đường tăng hay giảm nữa.
Thân
doducngoc
Phản hồi
Thân gửi thầy Ngọc.
Tôi xin góp ý vào đoạn có chữ đỏ dưới đây vì chính tôi và người trong gia đình đều bị tiểu đường xuống thấp nếu không có đường giữ sẵn trong túi áo hay để ngay đầu giường khi thấy dấu hiệu mắt mờ,ớn lạmh,tránrớm mồ hôi ,tay hơi run mà không nhai ngay từ 4 -6 cục đường cube hay ăn ngay 1 muỗng canh đường cát thì khó mà còn đủ sức đi lấy máy thử và làm nước gừng nóng pha đường uống.Do đó mà tôi xin đề nghi thầy cho sử một chút thôi là: CẦN LẤY ĐƯỜNG RA ĂN NGAY CHỪNG 2 MUỖNG CANH,SAU ĐÓ LÀM MỘT LY NƯỚC GỪNG NÓNG UỐNG VÀO ĐỂ..............
Tôi đã chỉ dẫn cho nhiều người bệnh tiểu đường luôn luôn giử đường trong túi khi ra khỏi nhà cũng như để đường ở nhửng nơi hay lui tới trong nhà để khi cần có thể có ngay mà dùng chứ để khi cần mới đi kiếm e rằng trễ mất rồi..
Thân mến.
Phạm ngọc Xuyến
Nhưng chớ bao giờ lạm dụng cả năm phương pháp trên để chữa bệnh tiểu đường.
Nhớ rằng khi cơ thể cảm thấy khó chịu, cần phải đo đường hay đo áp huyết ngay tức khắc để biết nguyên nhân làm mệt, mất sức do tụt áp huyết hay tụt glucoza-huyết xuống thấp, nếu xuống thấp cả hai, cần phải uống ngay một ly nước nóng pha 1 củ gừng giã, với 2 thìa đường, để cầm giữ áp huyết, giữ thân nhiệt và làm tăng glucoza-huyết, nếu không kịp, sẽ đi vào hôn mê do đường thấp dưới 3.6mmol/l, có triệu chứng bủn rủn tay chân, mệt lả, đau quặn bụng, vã mồ hôi, mất ý thức, tê liệt mặt, rối loan lời nói, thiếu oxy trong não làm mờ mắt, chóng mặt, ù tai và té ngã tổn thương sọ não dẫn đế tử vong không phải do tai biến mạch máu não mà do tai biến thiếu đường trong máu, glucoza-huyết xuống dưới 3.6mmol/l
Visit my blog:
Bài 420 : Bệnh Lipid-Huyết Tăng và cách chữa bệnh thuộc Đàm theo KCYĐ.
Khi thử máu phát hiện Lipid-huyết tăng có nghĩa là cơ thể dư những chất Triglycérid, Cholesterol, Phospholipid, rất thường xảy ra sau bữa ăn, thời kỳ mang thai, thời kỳ dùng thuốc ngừa thai.
(Triglycérid là thể nhẹ của loại Béta-Lipoprotein, Cholesterol là thể nặng của loại Béta-Lipoprotein, còn Phospholipid là loại alpha-lipoprotein.)
1-Nguyên Nhân Thứ Phát :
Còn trường hợp có bệnh Lipid-huyết tăng hỗn hợp nguyên nhân do hội chứng hư thận, việm tụy, hoặc có bệnh tiểu đường do suy tuyến giáp hay vàng da ứ mật làm tăng cholesterol.
Những người có bệnh gout, béo phì, nhiễm sắc tố sắt, xơ gan mật.
Tăng Lipid-Huyết hỗn hợp ngoại sinh nội sinh do thiếu máu tan máu, nghiện rượu kèm với thoái hóa mỡ gan trong bệnh vàng da ứ mật nhẹ.
2-Nguyên Nhân Nguyên Phát :
Do tăng cholesterol-huyết vô căn có tính gia đình kèm với u vàng trong bệnh nặng như u vàng ở da tạo ra những cục bướu mỡ nhỏ nằm trong da ở khuỷu, đầu gối, ngón tay, gân Achille, giác mạc, vữa động mạch, động mạch vành.
Do tăng glycérid-huyết vì thể dưỡng trấp do ngoại sinh từ thức ăn và do nội sinh gia tăng bởi rượu và đường.
Do gan lách to, hoặc khi có cơn đau bụng kéo dài 24-48 giờ có nguy cơ viêm tụy
3-Cách chữa theo Khí Công Y Đạo :
Với nguyên nhân nguyên phát theo tây y làm tăng cholesterol-huyết và tăng glycérid-huyết từ chất bột lipid, chất béo trong lipid, từ ngoại sinh do thức ăn gia tăng bởi rượu và đường hay từ nội sinh do chức năng tạng phủ trong cơ thể không đủ nhiệt lượng để chuyển hóa mà biến thành, đông y gọi chung là chất đàm, là tinh không đủ nhiệt lượng để biến thành chất bổ máu mà biến thành đàm.
Tinh :
Do nguyên nhân ngoại sinh : từ thức ăn dư thừa chất béo protein, chất bột lipid, chất đường glucid, và rượu, nên điều chỉnh Tinh bằng cách :
a-Mỗi ngày, sáng và tối dùng trà Trần Bì (nấu 2 vỏ quýt khô, 3 lát gừng với 1 lít nước cho sôi, cạn còn 1/2 lít) bỏ vào bình thủy pha thêm 1 thìa mật ong, có công dụng mạnh tỳ khí, ấm bao tử, hạ đàm.
b- Dùng Trà Sơn Tra sau mỗi bữa ăn để hóa giải những chất làm tăng lipid.
c-Cuối tuần uống Trà Phan Tả Diệp loại độc tố trong gan, loại bớt mỡ dư thừa trong gan mật.
Khí :
Nguyên nhân nội sinh từ bệnh lý do chức năng hấp thụ và chuyển hóa của gan mật tỳ vị suy yếu. Tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần sau mỗI bữa ăn làm thông khí toàn thân, kích th1ch chức năng tạng phủ hoạt động mạnh để tăng tính hấp thụ và chuyển hóa thức ăn, hóa giải độc tố vá những chất dư thừa từ chất béo, chất bột, chất đường, rượu bia sẽ bị loại ra theo đường bài tiết.
Sau khi Kéo Ép Gối, tập ngay bài Nạp Khí Trung Tiêu 5 lần cho những người áp huyết thấp.
Thần :
Trước khi đi ngủ 30 phút, nếu áp huyết thấp, cơ thể hàn lạnh không đủ nhiệt lượng chuyển hóa lipid-huyết, cần nằm theo dõi hơi thở ở Đan Điền Thần. Ngược lại, cơ thể nhiệt làm tăng độ đường trong máu và tăng áp huyết, cần nằm tập thở ở Đan Điền Tinh.
Thân
Doducngoc
Bài 419 : Huyết Áp Tĩnh Mạch Cửa Tăng là dấu hiệu của nhiều bệnh chữa bằng KCYĐ.
Theo kinh nghiệm của Giáo Sư Bác Sĩ Lưong Phán trong bài giảng Huyết Áp Tĩnh Mạch Cửa Tăng như sau :
A-Có những dấu hiệu :
Tuần hoàn bàn hệ ở bụng : khi có khi không khoảng 40%, nhứt là trên rốn. Trong trường hợp còn tĩnh mạch rốn hình "đầu sữa" to (trong bệnh xơ gan Cruveil-hier-Baumgarten).
Bệnh cổ trướng lúc có lúc không.
Bệnh lách to (50%)
Phình tĩnh mạch thực quản (chụp X-quang, soi mềm)
Nôn ra máu
Trong đa số trường hợp gan cứng.
B-Hậu quả :
Loét dạ dày-tá tràng thường kết hợp theo.
Bệnh não "tĩnh mạch cửa-tĩnh mạch chủ"
Nhiễm khuẩn huyết tĩnh mạch cửa- tĩnh mạch chủ do vi khuẩn Gram âm.
C-Nguyên nhân :
Trong đa số trưòng hợp vật cản tuần hoàn tĩnh mạch là ở trong gan như ;
Xơ gan do rượu, gan phì đại, nhưng cũng có thể teo gan, xơ gan sau đau gan, xơ gan mật, xơ gan tím, xơ gan nhiễm sắc tố sắt, ung thư gan tiên phát, bệnh gan u nang, viêm tĩnh mạch huyết khối trong gan, bệnh sán-máng gan-lách.
Vật cản sau gan (không có gan to, cũng không vàng da) trong bệnh chèn ép tĩnh mạch cửa do hạch hoặc khối u, ung thư tụy, viêm tĩnh mạch cửa, thiếu phát triển hoặc hẹp bẩm sinh tĩnh mạch cửa ở trẻ em, u hang tĩnh mạch cửa.
Vật cản trên gan trong hội chứng tắc tĩnh mạch trên gan, dạng cấp đau, dạng bán cấp, thường có tăng hồng cầu, viêm màng ngoài tim co khít, huyết khối hoặc chèn ép tĩnh mạch cửa dưới, trên, chỗ tiếp khẩu các tĩnh mạch trên gan.
Tất cả những dấu hiệu bệnh, nguyên nhân bệnh và hậu qủa bệnh trên lâm sàng là những kinh nghiệm qúy báu mà bác sĩ đã mang ra giảng dạy trong ngành tây y, cho đến nay cũng đã được kiểm chứng bằng máy đo áp huyết trên những huyệt ở Mạch Nhâm, và mạch ở rốn nơi huyệt Thần Khuyết, theo đông y có chức năng :
Ôn thông nguyên dương, cấp cứu hồi dương cố thoát, kiện vận trường vị, vận khí cơ trường vị hóa hàn thấp trệ. Bụng lạnh bị mất nhiệt năng.
1-So sánh áp huyết ở từng huyệt trên Mạch Nhâm :
a-Đặt máy đo áp huyết bên tay phải đo bình thường thì số đó áp huyết liên quan đến tim và gan, nhưng cũng đặt máy đo áp huyết bên tay phải, khi bấm đè vào rốn huyệt Thần Khuyết sẽ cho ra kết qủa áp huyết tĩnh mạch cửa liên quan đến gan.
b-Đổi máy đo áp huyết sang tay trái thì số đo áp huyết liên quan đén tim, bao tử, nhưng khi bấm đè vào rốn trên huyệt Thần Khuyết sẽ cho ra kết qủa áp huyết tĩnh mạch cửa liên quan đến tỳ (lách).
Nếu bình thường đo áp huyết hai tay thấy cao, nhưng bấm từng huyệt trên Mạch Nhâm từ Chiên Trung, Cưu Vĩ, Cự Khuyết, Thượng Quản, Trung Quản, Kiến Lý, Hạ Quản, Thủy Phân, Thần Khuyết, Âm Gia, Khí Hải, thì áp huyết xuống thấp dần
c-Thông thường khi bấm những huyệt này để đo áp huyết theo dõi chức năng chuyển hóa của lục phủ ngũ tạng, và làm hạ áp huyết, nhưng nó sẽ thay đổi theo sự khí hóa của cơ thể và lệ thuôc vào yếu tố Tinh tử thức ăn thuốc uống phù hợp hay không theo nhu cầu cơ thể cần. Như khi ăn uống sai lầm, khí huyết thay đổi, chuyển hóa bế tắc hay rối loạn, thì khi đo áp huyết ấn đè trên rốn lúc nào áp huyết cũng cao không xuống, lúc đó chính là áp huyết tĩnh mạch cửa tăng, thì có những dấu hiệu bệnh như bài giảng của Bác sĩ Lương Phán.
Khi một bệnh nhân bám đè trên rốn cảm thấy có khối u cục cứng, tức đau, thì đã có dấu hiệu bệnh ăn không tiêu, làm rối loạn trường vị, gan mật hoặc tỳ vị, sờ ấn ở rốn có nghe mạch đập mạnh nhanh, đó là áp huyết tĩnh mạch cửa tăng mà bác sĩ có thể nghe bệnh bằng ống nghe ở rốn..
2-Chữa theo Tinh-Khí-Thần :
Tinh :
Làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa ở rốn, làm bớt căng tức ở hông sườn như chai gan, sưng lách, cứng đầy đau tức bao tử, trương phình tĩnh mạch. Đông Y Khí Công làm hạ áp huyết của tĩnh mạch cửa ở bụng bằng Trà Phan Tả Diệp (Senna Laxatif) để lọc máu nhiệt độc, máu nhiễm mỡ, cholesterol... đã gây ra ứ tắc khí huyết tuần hoàn trong gan, mỗi tối uống 3-5 viên trong 3 ngày đến 5 ngày.
Khí :
Sau mỗi bữa ăn 30 phút, tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần, và 2 lần tập vào sáng tối. Tập đều mỗi ngày trong 1-2 tháng bụng sẽ mềm, không còn căng cứng từc hai bên hông sườn, và tĩnh mạch cửa được giảm áp lực, đo áp huyết nơi tĩnh mạch cửa ờ rốn sẽ thấp hay lọt vào tiêu chuẩn bình thường không còn làm cho gan tỳ sưng cứng..
Thần :
Có thể dùng dụng cụ của Diện Chẩn là Thất Tinh Châm đặt ngay vào rốn, dùng bàn tay đè lên ấn sâu 3cm, nằm tập theo dõi hơi thở phồng xẹp ở huyệt trong 30 phút trước khi đi ngủ sẽ có cảm giác áp lực tĩnh mạch cử đập nhẹ đều chậm lại và bụng mềm làm giảm áp huyết tĩnh mạch cửa, làm thông khí huyết bế tắc ứ nghẽn trong bụng, trong gan tỳ vị ruột...
Thân
doducngoc
Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011
Bài 418 : Huyết áp không đối xứng và cách chữa của Khí Công Y Đạo.
Không phải KCYĐ mới có cách đo áp huyết ở 2 tay để khám định bệnh, mà trước năm 1975 đã có Giáo Sư Bác Sĩ Lương Phán (cựu giám đốc Bệnh Viện Nguyễn Trãi) đã chần đoán bệnh này như sau :
Huyết áp sai biệt nhau 5mmHg giữa hai cánh tay phải trái :
Triệu Chứng Cấp Thời :
Đau ở một chi trên, hoặc đau ngực và dấu hiệu bị sốc.. do :
Tắc nghẽn động mạch : nguyên nhân : Hẹp lỗ van hai lá, bệnh cơ tim, viêm màng trong tim nhiễm khuẩn, rung tâm nhĩ, nhồi máu cơ tim, phình mạch thành của tâm thất trái, sa van hai lá (lá nhỏ), u nhầy tâm nhĩ trái.
Huyết khối phìng động mạch.
Phẫu tích phình mạch của động mạch chủ.
Phát Hiện Do Khám Bệnh :
Hẹp trên van lỗ động mạch chủ.
Hẹp động mạch chủ
Dị tật cung động mạch chủ
Dị tật của một động mạch dưới đòn
Viêm động mạch của một chi trên.
Hội chứng của động mạch dưới đòn ăn cắp máu (mạch quay không đều) ở người già, với chóng mặt, loạn vận ngôn, rối loạn thăng bằng, rối loạn khi nuốt.
Bệnh Takayashu (mạch quay không đều) ở phụ nữ trẻ, viêm hẹp các động mạch lớn với máu lắng nhanh và các bệnh tắc động mạch khác
Hội chứng khe cồ ngực : ở xương sườn cổ, chèn ép cơ bậc thang (mạch và áp huyết không đối xứng trong một vài tư thế như chi trên duỗi, giang hoặc xoay đầu)
Phình quay động mạch chủ.
Theo KCYĐ mặc dù số đo áp huyết có sai lệch không đối xứng do nhiều nguyên nhân kể trên, đối với tây y phải xét nghiệm chụp hình, điện tâm đồ để tìm đúng bệnh cho thuốc, để áp huyết trở lại đối xứng ở hai tay, thì ngược lại cách chữa của khí công trong trường hợp này là điều chỉnh cho hai bên bằng nhau bằng hai huyệt Ế Phong.
Nhưng ở bài giảng của giáo sư Lương Phán không đề cập đến cao hay thấp, nên sự chênh lệch không đối xứng ở bài trên cũng đã có những dâu hiệu bệnh bao gồm cả áp huyết chênh lệch cao và chênh lệch thấp.
A-Cách chữa bằng huyệt Ế Phong trong 2 trường hợp :
a- Áp huyết chênh lệch thấp hơn tiêu chuẩn tuổi :
Thí dụ :
120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
Tay trái 115, tay phải 120.
Bấm ấn giữ 2 huyệt Ế Phong hai bên lên cao, nhưng bấm mạnh hơn bên tay trái, lâu 1 phút, rồi thử lại áp huyết, áp huyết 2 tay sẽ lên, nếu tay trái còn thấp, chỉ bấm lại huyệt Ế Phong bên tay trái lâu 1 phút, đo lại áp huyết hai bên sẽ bằng nhau..
b-Áp huyết chênh lệch cao hơn tiêu chuẩn :
Thí dụ :
120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
Tay trái 130, tay phải 135.
Chỉ day bấm huyệt Ế Phong bên tay phải, bấm ấn đau rồi buông ra, đo lại áp huyết hai bên sẽ xuống thấp bằng nhau lọt vào tiêu chuẩn. Nếu áp huyết tay phải chưa xuống thì bấm lại lần thứ hai, rồi đo lại.
B-Cách điều chỉnh và duy trì áp huyết hai tay đều nhau bằng cách thở Đan Điền :
a-Thở Đan Điền Thần làm tăng áp huyết :
Sau khi điều chỉnh huyệt Ế Phong cho hai tay đều nhau, cao đều hay thấp đều, sau đó nếu áp huyết hai tay đều thấp dưới tiêu chuẩn thì nằm tập thở Đan Điền Thần làm tăng áp huyết hai tay lên đều.
b-Thở Đan Điền Tinh ở huyệt Khí Hải làm hạ áp huyết :
Sau khi điều chỉnh huyệt Ế Phong cho hai tay đều nhau, sau đó nằm tập thở ở Đan Điền Tinh hay dùng ngón tay ấn đè trên huyệt Khí Hải sâu 3cm, chỉ cần nằm theo dõi hơi thở chuyển động phồng-xẹp ở bụng dưới, áp huyết sẽ xuống từ từ cho đến khi đúng tiêu chuẩn tuổi thì ngưng.
Cách sử dụng huyệt Ế Phong và tập thở Đan Điền giúp áp huyết hai tay bằng nhau thì các xét nghiệm y khoa cũng trở lại trạng thái bình thường đúng tiêu chuẩn, nhưng cao áp huyết làm thấp cho bằng tiêu chuẩn thì dễ và nhanh, vì đó là phương pháp tả, còn cơ thể thiếu máu áp huyết thấp muốn làm tăng áp huyết chỉ bằng hơi thở (thuộc khí) thì không có kết qủa như ý muốn nếu không dùng thêm thuốc bổ máu và ăn uống những chất bổ máu đủ theo phương pháp bổ Tinh, thì tế bào sẽ bị hủy hoại gây ra biến chứng bệnh khác.
Vì thế môn KCYĐ đã nghiên cứu bệnh tật tìm nguyên nhân và cách chữa đếu theo tiêu chuẩn phân tích những diễn biến của áp huyết ờ 2 tay 2 cổ chân trong, để điều chỉnh được tất cả những bệnh tật đả làm xáo trộn khí huyết của tạng phủ, bằng cách điều chỉnh Tinh-Khí-Thần cùng lúc.
Thân
doducngoc
Câu hỏi 270 : Áp Huyết thấp, tim đập nhanh.
Kính chào thầy cùng quý anh chị hiện đang tham gia sinh hoạt trên diễn đàn. Con/em có thắc về vấn đề huyết áp như sau:
Thiện Duyên là nữ, 28 tuổi
Cách đây 1 tháng khi mới biết tới Khí Công Y Đạo, huyết áp đo được ở 2 tay thường xuyên ở mức 90/60 mạch đập dưới 65 , tiêu hoá bình thường, không bao giờ táo bón mà dễ bị đi phân nát hơn.
Sau khi tập các bài
-Ép gối thở ra làm mềm bụng: 100 lần/ ngày
- Nạp khí trung tiêu: 5-10 lần/ngày
- Vỗ tay 4 nhịp: 5 phút, có ngày tập được 2 buổi, có ngày không
- Nằm thở thiền đặt tay lên đan điền thần ngày 2 lần tới khi ngủ thiếp đi, chưa bao giờ cảm thấy tay ấm nóng và rịn mồ hôi tay khi tập bài này
- Uống thuốc viên nén bổ máu tây y
- Uống trà gừng mật ong sau ăn 2 bữa chính trong ngày
Huyết áp trong quá trình 1 tháng qua đo được không ổn định, có lúc sau ăn 30 phút huyét áp lên được 110/68 nhịp tim 80 ( nhịp tim từ đó tới nay ngày một tăng )
Hiện ngay lúc này sau ăn trưa, sáng có tập khí công rồi,
huyết áp còn lại
Tay trái:88/56 nhịp tim 88
Tay phải: 99/64 nhịp tim 80
Tim đập nhanh nên rất mỏi, nặng, tức vùng ngực. Huyết áp vừa thấp tim lại đập nhanh nên rất hoang mang, xin thầy và quý anh chị giúp đỡ chỉ dẫn cho Thiện Duyên cách điều chỉnh lại liều lượng luyện tập, ăn uống tẩm bổ để cải thiện sức khoẻ
Kính chào thầy cùng quý anh chị hiện đang tham gia sinh hoạt trên diễn đàn
Bài Trả Lời
(của Dương Anh được chọn đăng)
Gửi chị Thiên Duyên !!!
Phân tích áp huyết
So sánh huyết áp tiêu chuẩn ở tuổi thanh niên ( 18 tuổi đến 40 tuổi )
110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70
Huyết áp 90 thấp hơn tiêu chuẩn do thiếu khí huyết, mạch đập dưới 65 thấp hơn tiêu chuẩn nên cơ thể bị Hàn ( Lạnh ). Bao tử không đủ khí huyết, nhiệt để chuyển hóa thức ăn thành chất bổ, sẽ chuyển hóa thành phân sống gây đi ngoài dễ bị nát.
Trong khi đó, do tập luyện khí công không đều, giờ giấc không đúng, không đủ liều lượng, tập sai dẫn đến khí huyết cơ thể ngày càng thiếu khiến nhịp tim ngày càng tăng, đập mạnh hơn để dẫn khí huyết đi nuôi cơ thể.
Chú ý nếu hiểu sai, có khả năng chẩn đoán lầm như :
a-Tưởng cơ thể bị nhiệt và ngày càng tăng nhiệt, mà yêu cầu chị ăn đồ mát, lạnh thì bệnh chị nặng hơn.
b-Hoặc chẩn đoán lầm chị bị ung thư theo cách tính của khí công y đạo. Nhưng nếu bị chẩn đoán ung thư thì cũng đúng về mặt nguyên nhân là do huyết áp thấp gây ra bệnh ung thư, còn thực tể, chưa thành bệnh rõ ràng qua xét nghiệm tây y, thì phải mất 10,20 năm nữa nếu tiếp tục duy trì huyết áp thấp như vầy.
Em có 1 người chị buổi trưa đang làm việc có triệu chứng ói, nhức đầu, tim đập mạnh . . . Huyết áp đo được lúc đó là 90 mạch đập không đều trung bình khoảng từ 80 đến 100. Nhưng sau khi cho tập Nạp Khí Trung Tiêu thì huyết áp đo được là 90, mạch đập chỉ còn 65. Do sau khi tập, cơ thể đã nạp đủ khí. Tim không phải đập nhanh hơn để dẫn khí đi nuôi cơ thể nên đập chậm lại từ từ, tàn tàn nhưng huyết áp vẫn đủ 90. ( Kết quả tương tự đối với 1 số người khác ).
Cách chữa trị : Điều chỉnh lại cách tập khí công, và điều chỉnh lại cách ăn uống bồi bổ khí huyết đủ tiêu chuẩn là khỏi bệnh.
Tinh :
Không ăn những thức ăn làm mất máu, làm hạ huyết áp như những chất lạnh, và chua như nước chanh, bưởi , cam, quýt , xoài, dứa, nước đá, cà rem . . . . . . .
-Ăn những thức ăn bổ máu như rau dền, củ dền đỏ, bí đỏ, thịt bò, đậu đỏ, … . . .
-Uống viên thuốc bổ máu B12 có bán ngoài tiệm thuốc tây. ( chú ý nếu không tập luyện khí công thì khi uống vào không có đủ oxy kết hợp thì chỉ là chất sắt thông thường )
Khí :
Bài tập chủ đạo của chị là Nạp Khí Trung Tiêu ngày 3 lần sau bữa ăn 30 phút - mỗi lần tập, giơ chân 5 lần, mỗi lần giữ chân lâu 1 phút, khi bỏ chân xuống cũng vẫn cuốn lưỡi ngậm miệng giữ khí.
Tập thêm bài Cúi Ngửa 4 Nhịp ( Tối thiểu 25 lần khi tập ) , Vặn Mình 4 Nhịp ( tối thiểu 25 lần khi tập ), Vỗ Tay 4 Nhịp ( 200 cái ) để khí huyết lưu thông tốt. Nếu thời gian không cho phép, thì ít nhất chọn tập riêng 1 bài không cần tập hết nhưng phải đủ ngày 3 lần. Tập thêm được càng tốt, mau hết bệnh.
-Trong ngày, tập lai rai, chơi chơi 7 bài đầu chỉnh thần kinh và ấn huyệt Ế Phong làm tăng áp huyết khi rảnh.
Sáng dậy áp dụng để làm bài tập thể dục buổi sáng càng tốt nữa.
Thần :
Tối nằm ngủ tập thở thiền ở Đan Điền Thần. Trước khi ngủ tập thêm Nạp Khí Trung Tiêu càng tốt, vừa tăng áp huyết, vừa ngủ ngon do cũng hơi phê phê rồi.
Thuốc chữa trị :
Uống 4 vị : Đại Hồi, Nhục Quế, Gừng Tươi, Mật Ong ( bán ngoài tiệm thuốc Bắc và Tây )
Không cần sắc thuốc gây khó khăn. Chỉ cần mua Đại Hồi, Nhục Quế về giã nát hoặc xay thành bột. Lấy 1 muỗng cà phê ( đá ) Đại Hồi, 1 thìa Nhục Quế, với 1 củ gừng nhỏ bằng ngón tay cái gọt vỏ giã nát, 1 thìa mật ong. Tất cả trộn chung lại. Pha với nước nóng thành 1 cốc vừa . Đợi ấm uống nước bỏ bã sau bữa ăn tối. Giúp tăng huyết áp và tăng nhiệt. ( Nhớ phải nước vừa sôi xong, nước lấy từ trong bình thủy tuy nóng nhưng không đủ nhiệt độ, không hòa tan được bột thuốc, gây vón cục khó uống. )
- Chú ý :
Do tính nhiệt nên đôi khi 1 số người uống vào sẽ đi cầu bón, thì chỉ cần tập bài Kéo Ép Gối số lượng vừa tùy mình cảm nhận, làm mềm bụng, tăng nhiệt cho bao tử làm việc, giúp chuyển hóa nhiệt và dinh dưỡng cho cơ thể. Muốn tập bài này do áp huyết thấp nên trước khi tập phải tập bài Nạp Khí Trung Tiêu trước cho huyết áp tăng để đủ sức tập kéo gối. Sau khi kéo gối thì tập thêm Nạp Khí Trung Tiêu để cân bằng áp huyết lại. Nếu cảm thấy không đủ thời gian, không ảnh hưởng nhiều của bài kéo gối thì chỉ cần tập Nạp Khí Trung Tiêu sau khi tập kéo gối, không cần tập trước bài kéo gối.
Áp dụng cho đến khi áp huyết tăng lọt trong tiêu chuẩn, nếu áp dụng đều đặn thì sau khoảng 3 tuần thấy biến chuyển rõ rệt.
Chúc chị Thiên Duyên mau lành bệnh nha !!!
Dương Anh ( Hoàng Nhật )
Câu hỏi 271 : Vọp bẻ teo bắp chân ở bé 4 tuổi.
Kính chào Thầy Đỗ Đức Ngọc
Tôi ở Hà Nội, Việt Nam. Tôi xin được trình bày và xin ý kiến của Thầy về hiện tượng teo chân của con tôi.
Con gái tôi năm nay 4 tuổi, từ hơn 02 tháng nay cháu bị hiện tượng co cơ (chuột rút) ở chân trái (cứ vài ngày lại bị một lần), sau đó dần dần chân cháu bị nhỏ lại. Hiện nay chỉ bằng 6 phần so với chân bên phải.
Gia đình tôi đã cho cháu làm các xét nghiệm như sau: Điện cơ, Xét nghiệm dịch não tủy, Xét nghiệm các chỉ tiêu hóa sinh, công thức máu, các chỉ tiêu huyết học, Chụp cộng hưởng từ (MRI) sọ não, cột sống cổ, cột sống thắt lưng, Xét nghiệm GEN SMN-1, Kiểm tra thần kinh ngoại vi đùi và chân, Chụp XQ xương chậu, khớp háng, chỏm xương đùi, Siêu âm màu doppler kiểm tra tốc độ dòng chảy máu ở hai chân, Siêu âm khớp háng.
Tất cả đều cho kết quả là bình thường.
Đến nay các bác sĩ vẫn chưa xác định được cháu bị teo chân do nguyên nhân gì và hiện nay vài ba ngày cháu vẫn bị đau do co cơ (như chuột rút) chân trái, làm cho cháu rất đau.
Xin gửi Thầy hình ảnh chân của cháu để Thầy xem.
Gia đình chúng tôi xin ý kiến của Thầy.
Cảm ơn tất cả ý kiến của Thầy.
Trả lời :
A-Nguyên nhân :
Nguyên nhân của bệnh vọp bẻ, teo cơ, có nhiều yếu tố như :
Di truyền khi mang thai :
Đứa trẻ bị độc tố thuốc lá Nicotin, hoặc rượu từ người cha, hay thuốc sâu rầy có chất phosphore, hay từ thuốc lợi tiểu mà người mẹ đã dùng, hoặc cha mẹ có dùng thuốc chữa bệnh tiểu đường.
Do cháu bị rối loạn chuyển hóa như giảm Clor-huyết, Natri-huyết, cơ thể mất nước do tiêu chảy ở bệnh dịch tả hay do xuất mồ hôi nhiều khi say nắng, ói mửa.
Do giảm calci-huyết làm cơ thể thiếu chất vôi, hoặc thiếu chất đường, hoặc tính hấp thụ kém cơ thể thiếu máu nuôi cơ bắp, hoặc chức năng thận suy gây ra bệnh còi xương và vọp bẻ.
Tất cả những dấu hiệu này đều có thể biết được nhờ máy đo áp huyết ở 2 tay và 2 cổ chân trong thấp hơn tiêu chuẩn của khí công. Thử độ đường trong máu sẽ bị thấp.
B-Cách chữa theo Tinh-Khí-Thần :
Tinh :
1-Cho cháu dùng thuốc bổ máu Đương Quy Tửu trước mỗi bữa ăn 30 phút:
Những bệnh có thể uống được thuốc bổ máu Đương Quy Tửu (Tankwe gin).
Tankwe Gin-natural Chinese Herb Mix
2-Mua thuốc sữa Calcigénol cho cháu uống để bổ xương, tăng chất vôi, uống vào sáng và tối, có thể mua ở tiệm thuốc tây hay mua trên mạng ở link này :
(01-09-11 08:43:00) #100360043: - publicié -calcigénol irradié ...
- [ Dịch trang này ]
3-Cho cháu ăn thêm chất ngọt như chè táo đỏ, uống nhiều nước hơn bình thường, kiêng ăn thức ăn chua, lạnh như nước đá, nước chanh..
Mỗi tuần thử đường trong máu lên đủ tiêu chuẩn 5-7mmol/l chưa, nếu chưa thì tiếp tục ăn chè táo đỏ, còng đủ độ đường trong máu thì ngưng không đực ăn nhiều ngọt nữa.
4-Nếu cháu kém ăn, nấu 10 Lá Mơ Tam Thể với 1 lít nước, cạn cón 1/2 lít, cho cháu uống làm hai lần, ngay khi ăn cơm.
Khí :
1-Tập 7 bài đầu khí công cho cháu, mỗi sáng, tối.
2-Sau mỗi bữa ăn, tập cho cháu bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 50-100 lần làm tăng tính hấp thụ và chuyển hóa thức ăn, và đưa khí huyết xuống chân.
3-Xoa dầu nóng xoa vuốt bắp chân teo, rồi cho cháu tập nhảy dây, và nhẩy cò cò bằng chân teo cho chức năng hấp thụ chuyển hóa máu nuôi chân teo nhiếu hơn.
4-Cho cháu tập đi xe đạp và bơi lội mỗi tuần.
5-Tắm ngâm người trong nước nóng ấm pha gừng giã 100g hay bột gừng làm tăng tính thẩm thấu nước gừng ấm vào hai chân giúp khí huyết lưu thông mạnh, cứng xương, ấm thận và xương cột sống.
Thần :
Tối trước khi đi ngủ, bó gừng giã đắp vào gan bàn chân bên teo, bảo cháu nằm thở bình thường nhưng để ý đến gan bàn chân trong 30 phú, xem có cảm giác nóng ấm ở gan bàn chân không, đó là các dùng ý dẫn khí và huyết xuống gan bàn chân, thì khí huyết sẽ đi qua muôi cơ bắp chân lớn dần.
Ghi chú :
Cần theo dõi đo áp huyết ở chân xem áp huyết ở chân có tăng lên ở hai bên chân đều nhau không.
Thân
doducngoc
Bài 417 : Nguyên Nhân và Triệu Chứng Thiếu Máu Trong Khám và Định Bệnh. Chữa Bệnh Khi Chưa Bệnh của Đông Y Khí Công.
Phần 1 : Nguyên Nhân và Triệu Chứng Thiếu Máu Trong Khám và Định Bệnh
Theo Giáo Sư Bác Sĩ Lương Phán (cựu giám đốc Bệnh Viện Nguyễn Trãi, Saigon) định nghĩa Bệnh Thiếu Máu :
Giảm khối lượng hồng cầu hay đơn giản hơn giảm hémoglobin lưu hành : chính tỷ lệ hémoglobin thể hiện chính xác nhất mức độ thiếu máu.
A-Thường thì nguyên nhân thiếu máu rất rõ và thiếu máu chỉ là triệu chứng trong một bệnh cảnh đặc biệt :
Xuất huyết. Nhiễm khuẩn huyết. Viêm màng trong tim. Ngộ độc. Suy dinh dưỡng. Tình trạng suy yếu. Ung thư. Suy thận. Bệnh máu bạch cầu. Ban xuất huyết.
B-Ngoài những trường hợp nói trên, xét nghiệm chính xác về huyết học rất cần thiết :
Đếm huyết cầu.
Định lượng Hémoglobin (bình thường ở đàn ông 14-15g/100ml) ở phụ nữ 12-13g, ở phụ nữ mang thai 10-11g)
Thể tích trung bình của hồng cầu : bình thường 85-95micro-mét khối do đó có :
-Thiếu máu hồng cầu bình thường.
-Thiếu máu đại hồng cầu trên 100micro-mét khối.
-Thiếu máu tiểu hồng cầu ; dưới 80micro-mét khối.
Trọng tải Hémoglobin bình thường 32-36% do đó có :
-Thiếu máu đẳng sắc, thiếu máu nhược sắc.
Đếm hồng cầu lưới : bình thường 25000-100000, tức 0.5-2% do đó có :
-Thiếu máu có tái tạo (tăng hồng cầu lưới dương tính)
-Thiếu máu không tái tạo
Sắt- huyết thanh bình thường 70-80găma/100ml do đó có :
-Thiếu máu bệnh sắt, thiếu máu giảm sắt, thiếu máu tăng sắt.
Tìm dấu hiệu tan máu bilirubin-huyết tự do
Đếm bạch cầu và tiểu cầu.
Tủy đồ.
Có thể phân loại bệnh thiếu máu theo cơ chế sinh bệnh học :
1-Thiếu máu do mất hồng cầu qúa nhiều.
2-Thiếu máu do hồng cầu sinh sản thiếu.
Trường hợp Mất Qúa Nhiều Hồng Cầu :
Xuất huyết :
Xuất huyết cấp gây ra thiếu máu đẳng sắc với dấu hiệu tái tạo : hồng cầu không đều và tăng hồng cầu lưới.
Xuất huyết it nhưng nhiều lần, cuối cùng rồi cũng gây ra thiếu máu giảm sắc (nhược sắc).
Tan máu :
Thiếu máu đẳng sắc có tái tạo :
-Do dị dạng của hồng cầu
-Bệnh tiểu hồng cầu tròn do di truyền (ở bệnh lách to)
-Tăng hồng cầu hình bầu dục.
-Huyết cầu tố dị thường, tăng hồng cầu hình kiềm...
-Thiếu G6PD = Glucoz-6-Phosphate-Dehydrogenaza.
Do nguyên nhân ngoài hồng cầu :
-Chất độc, nhiễm khuẩn hay ký sinh trùng, miễn dịch học, đồng kháng thể hay kháng thể tự có : tăng năng lách to, tan máu cơ học van tim giả.
Thiếu máu do hồng cầu sinh sản thiếu : (thiếu tạo hồng cầu)
Thiếu máu luôn luôn không tái tạo :
Biến chất của tủy xương :
-Bất sản của tủy (giảm huyết cầu toàn thể)
-Di căn vào tủy : bệnh bạch cầu, ung thư.
-Xơ hóa tủy do lách to, lách-tủy (splénomégaliemyéloide)
-Thiếu sắt, thiếu máu giảm sắt vì hồng cầu :do cung cấp thiếu ở trẻ sơ sinh, do hấp thụ kém, do xuất huyềt ẩn.
Thiếu máu "viêm" : thiếu máu đẳng sắc, hồng cầu bình thường với sắt huyết thanh thấp, nếu tình trạng viêm kéo dài thiếu máu vì hồng cầu và giảm sắc :
-Nhiễm khuẩn kéo dài, thấp khớp viêm, ung thư.
Thiếu Vit. B12 : thiếu máu đại hồng cầu, nguyên hồng cầu khổng lồ trong bệnh Biermer, hấp thụ kém, cắt toàn dạ dày, bệnh sán botriocéphalus.
Thiếu acid Folic : thiếu máu đại hồng cầu có hoặc không có nguyên hồng cầu khổng lồ ;
-Hấp thụ kém, thai nghén, xơ gan, thuốc kháng folie, nghiện rượu.
Thiếu protid như suy dinh dưỡng, lao, nhiễm khuẩn.
Suy tuyến giáp : thường là thiếu máu đại hồng cầu.
Suy thận : thiếu máu đẳng sắc hồng cầu bình thường : do vô niệu, suy thận mãn.
Thiếu máu nguyên bào sắt, tăng sắt-huyết.
Giảm nguyên hồng cầu : do di truyền, do tình trạng gần bị ung thư.
Phần 2 : Chữa Bệnh Khi Chưa Bệnh của Đông Y Khí Công.
Nhờ máy đo áp huyết so sánh với áp huyết tiêu chuẩn của khí công theo lứa tuổi :
95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)
100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)
110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)
120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)
Chúng ta sẽ tìm ra ngay được nguyên nhân bệnh thiếu máu khi áp huyết thấp hơn tiêu chuẩn, và phân tích nguyên nhân bệnh thiếu máu theo tây y gồm có những nguyên nhân :
1-Do Di truyền từ cha mẹ :
Có bệnh thiếu máu, nghiện rượu, cơ thể có chứa độc tố, chức năng lách to, ung thư, thiều máu do tủy bất sản...nếu ham có con, sẽ tạo ra đứa con nhiều bệnh tật. Muốn có con khỏe mạnh, cần phải kiểm chứng khí huyết của cha mẹ xem khí huyết có đủ tiêu chuẩn theo lứa tuổi của khí công hay không.
2-Theo cách Khám Bệnh và Định Bệnh của Khí Công Y Đạo dựa trên 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần vừa để tìm nguyên nhân và vừa để chữa bằng cách điều chỉnh lại 3 yếu tố đã gây ra bệnh :
Điều chỉnh Tinh :
Nếu ăn những chất chua hàn lạnh và theo dõi áp huyết sẽ thấy áp huyết thấp dần, ngược lại khi ăn những thức ăn có chất sắt chất bổ máu áp huyết sẽ tăng dần.
Như vậy nguyên nhân gây thiếu máu áp huyết thấp do ăn uống sai lầm, do ăn kiêng khem, suy dinh dưỡng, ăn không đủ số lượng chất bổ để nuôi cơ thể, và đủ máu đi nuôi tất cả các tế bào.
Điều chỉnh Khí :
Công thức máu là oxyde sắt tam Fe2O3. Nếu cơ thể thiếu máu hay mất máu, đã được truyền máu, nhưng máu cần oxy để bảo quản và duy trì công thức máu, Nếu cơ thể không tiếp thu được nhiều oxy bằng cách tập thể dục thể thao giúp cơ thể có nhiều oxy để tiêu diệt tế bào bệnh, làm hưng phấn chức năng hấp thụ và chuyển hóa thức ăn và duy trì bảo vệ máu không bị mất oxy và chống nhiễm trùng. Muốn tăng tính hấp thụ và chuyển hóa cần tập hai bài tập quan trọng của khí công :
Nạp Khí Trung Tiêu 5 lần, và bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mền Bụng 200 lần sau mỗi bữa ăn 30 phút giống như loài nhai lại, kích thích chức năng hấp thụ và chuyển hóa thức ăn thành chất bổ máu, giúp cơ thể sinh hóa và chuyển hóa tốt.
Có 2 cách áp dụng hai bài tập này :
a-Sau khi ăn 30 phút, đo áp huyết 2 tay, nếu thấp hơn tiêu chuẩn thì tập bài Nạp Khí Trung Tiêu 5 lần, rồi đến bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng. Sau khi tập xong 10 phút đo lại áp huyết nếu còn thấp, tập lại bài Nạp Khí Trung Tiêu 5 lần.
b-Trước khi tập, đo áp huyết cao hơn tiêu chuẩn thì tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần trước rồi tập bài Nạp Khí Trung Tiêu 5 lần sau.
Điều chỉnh Thần :
Một vị thiền sư đã qủa quyết sự ich lợi của thở thiền sẽ khỏi bệnh :
Thiền theo hơi thở hoặc trì niệm cho đến nhất tâm bất loạn, nếu không giải thoát thì cũng đặng vãng sanh. Còn việc trị bệnh thì để người chưa biết tu hay bác sỉ, thầy thuốc, mà kiếm sống vậy.
Nên nhớ rằng :''Niệm Chú, niệm Phật không ngừng nghỉ khỏi tốn tiền hoặc mổ xẻ đau đớn mà vẫn hết bệnh "MĐ cam đoan không sai !
Hơn nữa ngồi thiền tự dẫn khí điều phục được tâm an ổn thanh tịnh, tự nhiên biết cách giải trừ bệnh tật quyết không sai .
Chỉ vì thiếu tự tin mà phải nhờ người trị bệnh hay mổ xẻ sanh đau đớn .
Họ mổ xẽ mình họ có đau đớn gì đâu, cho nên họ rất sẳn sàng .
Còn đến phiên họ bị mổ xẻ thì họ sẽ sợ hãi thế nào ?
Minh Đức .
Do đó môn Khí Công Y Đạo có phương pháp hướng dẫn cách thở thiền để tự chữa bệnh bằng cách điều khí với thần hòa hợp.
Theo dõi hơi thở đến chỗ "nhất tâm bất loạn" bằng cách cột tâm trụ vào một điểm chữa bệnh là làm tăng áp huyết ở Đan Điền Thần nếu áp huyết thấp, hoặc trụ tâm ở một điểm Đan Điền Tinh nếu áp huyết cao. Thay vì thở thiền ngồi lúc ban ngày, thì tập thêm bài thở thiền nằm, trước khi đi ngủ 30 phút, sẽ làm tăng hồng cầu, tăng tính hấp thụ và chuyển hóa, tăng tính miễn nhiễm, loại bỏ độc tố trong cơ thể theo đường bài tiết nhanh, cột tâm ờ điểm Đan Điền Thần hay Đan Điền Tinh điều chỉnh được áp huyết tăng hay giảm, giúp cơ thể chống mệt mỏi, an thần ngủ ngon.
Phần 3 : Chữa bệnh khi chưa bệnh .
Đối với tây y khi có bệnh mới chữa thì đã qúa muộn. Do đó cần phòng bệnh bằng cách tự mình theo dõi kết qủa đo áp huyết hay xét nghiệm máu sẽ thấy được dấu hiệu đang bị bệnh như :
Ở tuổi lảo niên, có số đo áp huyết tiêu chuẩn là :
130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)
Nhưng khi mình thấy cơ thể lão suy, mệt mỏi, mất sức, khó ngủ, tiêu hóa kém,, đo áp huyết từ 140, một vài tháng sau cứ xuống dần 135, bác sĩ nói tốt, xuống đến 130, bác sĩ nói tốt, đến 125 bác sĩ nói tốt quá, đến 115 bác sĩ nói tốt qúa, đến 110 cũng tốt qúa, đến 105 bác sĩ nói quả1à tốt, không bao giờ sợ bị tai biến mạch máu não, xuống đến 100 bác sĩ nói qúa lý tưởng, mọi người đều ao ước có số đo áp huyết lý tưởng như bác. Đến 95, là do hậu qủa của việc dùng thuốc trị bệnh cao áp huyết kéo dài, bệnh nhân đi cấp cứu ở bệnh viện mới biết bệnh nhân bị xuất huyết nội tạng và ung thư.
Tôi đã có một người bạn vẫn uống thuốc chữa cao áp huyết, thỉnh thoảng có đến tôi khám xem tại sao dạo này anh hay mệt, tôi đo áp huyết và đã cảnh báo anh mỗi lần áp huyết thấp dần, anh lại đi khám một bác sĩ gia đình là một người bạn rất thân với anh để lưu ý với anh sự khuyến cáo của cách khám bệnh đông y khí công. Hôm sau anh lại đến tôi cho biết bác sĩ bạn anh cho biết áp huyết tốt, một tuần lễ sau anh mệt phải nhập viện và đã lìa bỏ thế gian trong một cơn hôn mê sâu.
Đối với đông y khám bệnh bằng bắt mạch cũng đã thấy khí huyết suy yếu dần, còn đối với Khí Công Y Đạo khám bệnh bằng máy đo áp huyết cũng đã thấy bằng con số cụ thể, khí huyết suy yếu, nên cả hai phương pháp đông y, và KCYĐ cũng đã phải chữa cho bệnh nhân phục hồi lại khí huyết cho lên đủ tiêu chuẩn, đó là cách chữa bệnh khi chưa bị bệnh là phương pháp phòng ngừa bệnh kịp thời.
Còn nếu theo dõi bệnh khi thử máu theo tiêu chuẩn y khoa, tuy các chỉ số thử nghiệm đều nằm trong tiêu chuẩn thì bác sĩ kết luận là tốt, nhưng bác sĩ không theo dõi diễn tiến từ đầu đến cuối để thấy có sự thay đổi giảm từ từ gần lọt ra ngoài tiêu chuẩn, sau mỗi lần thử máu, thí dụ như :
Bạch cầu : (giới hạn bình thường từ 4.5 - 10.5 ) thử nghiệm lần thứ nhất 8.0. lần thứ hai 5.0, theo lý thuyết tây y thì tốt chưa bị bệnh, đối với đông y hay khí công là đã có dấu hiệu bệnh, cần phải chữa trước khi nó bị bệnh, nếu không, khi thử nghiệm lần thứ ba bạch cầu xuống đến 3.0 tây y mới kết luận là ung thư thì qúa muộn.
Tương tự đối với hồng cầu cũng vậy :
Hồng cầu : (giới hạn bình thường từ 4.20 - 5.4 ) thử máu lần thứ nhất 5.0, lần thứ hai 4.3, đó là dấu hiệu bệnh khi chưa bệnh, đông y hay khí công đã cần phải chữa trước khi chưa bệnh, nếu không đến khi thử nghiệm lần thứ ba hồng cầu xuống 3.8, tây y mới kết luận thiếu máu hay ung thư.
Bệnh thiếu máu được xác định rõ nhất là xét nghiệm khối lượng hạt máu gọi là Hematocrit. (Hct.)
Hct : (giới hạn bình thường từ 37-47), thí dụ khi thử máu lần thứ nhất 43, lần thứ hai 38, theo đông y hay khí công đã thấy dấu hiệu bệnh, cần phải chữa, nếu không chữa phòng ngừa bệnh, đến khi thử máu lần thứ ba, nó xuống thấp lọt ra ngoài tiêu chuẩn như 30, thì tây y kết luận ung thư thì qúa muộn.
Đối với phương pháp tự khám để biết tình trạng khí huyết trong cơ thể mình bằng máy đo áp huyết là cách đơn giản nhất và chúng ta nên nhớ rằng đối với tây y không phân loại áp huyết theo tuổi nên giới hạn của áp huyết nằm trong khoảng 100 đến 140 là tốt, vì thế mà chúng ta không để ý áp huyết thay đổi trong khoảng tiêu chuẩn này, bỗng dưng từ tiêu chuẩn thấp tăng dần lên tiêu chuẩn cao hay ngược lại từ tiêu chuẩn cao giảm dần xuống tiêu chuẩn thấp, thì khi xét nghiệm máu, hồng cầu hay bạch cầu hay khối lượng hạt máu cũng thay đổi từ tiêu chuẩn cao xuống tiêu chuẩn thấp hay từ tiêu chuẩn thấp tăng dần lên tiêu chuẩn cao. Đông y khí công đã thấy trước tiến trình hình thành bệnh khí huyết thuộc thực chứng hay hư chứng cần phải chữa ngay khi nó chưa trở thành bệnh nặng.
Cũng vì lý do này, khi một người hỏi bệnh, KCYĐ không cần đến kết qủa thử máu làm tốn tiền bệnh nhân, chỉ cần bệnh nhân cho biết số đo áp huyết ở 2 tay, trước và sau khi ăn bữa ăn sáng, bữa ăn chiều là thấy được chiều hướng tiến triển của bệnh thực chứng hay hư chứng khi so sánh với bảng áp huyết tiêu chuẩn khí công.
Những bệnh nhân ở tuổi lão niên, hay trung niên, khi cho biết kết qủa áp huyết không nằm trong tiêu chuẩn lão niên hay trung niên, mà thấp trong khoảng trẻ em, đông y hay đông y khí công biết ngay bệnh nhân đó thiếu khí và thiếu máu, nhưng bệnh nhân đi khám bác sĩ xong, lại cho tôi hay là bác sĩ nói : Không bị thiếu máu. Điều đó cũng đúng vì xét nghiệm máu vẫn nằm trong tiêu chuẩn thấp. Nhưng nếu không chữa kịp, để hồng cầu và bạch cầu xuống thấp lọt ra khỏi tiêu chuẩn, không theo lời khuyên của khí công dùng thuốc bổ máu kịp thời, lúc đó áp huyết xuống đến 80 thì cả tây y lẫn khí công đều kềt luận là bệnh ung thư thì qúa muộn chữa không còn kịp.
Ngược lại những bệnh nhân ở tuổi thiếu nhi, thiêú niên, thanh niên, khi cho biết áp huyết không nằm trong tuổi thiêú nhi, thiếu niên, thanh niên mà cứ tăng dần lên tiêu chuẩn cao như lão niên, (130-140mmHg) đối với tây y vẫn cho là tốt. Nhưng theo tiêu chuẩn áp huyết theo tuổi của khí công thì bệnh nhân có dấu hiệu bệnh thực chứng là cao áp huyết, nếu đi xét nghiệm máu sẽ lọt ra ngoài tiêu chuẩn cao, nên mới có bệnh cao áp huyết áp huyết mà không biết, hậu qủa là nhức đầu, mất ngủ, động kinh, chảy máu cam, bệnh autism (bệnh trẻ em hiếu động), bệnh tâm thần điên loạn mà tây y không tìm ra nguyên nhân, vì thấy những chỉ số thử nghiệm máu hay đo áp huyết đều nằm trong tiêu chuẩn.
Nếu tây y chịu khó thống kê tiêu chuẩn thử nghiệm xếp theo lứa tuổi thì sẽ chẩn đoán bệnh dễ dàng.
Thí dụ một trường hợp bệnh nhân 56 tuổi khai bệnh : Mắt nhìn bị mờ và có nhiều gân máu đỏ, ít ngủ, có nhiều đêm thức đến sáng, hay bị đau vùng thượng vì, đau từ đầu đêm đến sáng, phải uống thuốc giảm đau mới hết. Bệnh nhân cho biết kết qủa đo áp huyết sau khi ăn 30 phút : Tay trái : 111/70 - 81, Tay phải : 108/62 - 80.
Nếu so sánh với áp huyết tiêu chuẩn của khí công ở tuổi 56 là :
120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
Đông y khí công kết luận thiếu khí và huyết, tay trái sau khi ăn mà vẫn bị thấp chứng tỏ chức năng bao tử không đủ khí lực co bóp chuyển hóa thức ăn (111mmHg), mạch 81 so với mạch tiêu chuẩn 70-75 là thức ăn không chuyển hóa lưu lại trong bao tử lâu trở thành nhiệt làm đau vùng thượng vị. Áp huyết tay phải chỉ chức năng hoạt động của gan, gan chứa máu. áp huyết 108 là khí hoạt động trong gan yếu không co bóp bơm máu cho tim tuần hoàn, nhịp mạch 80 cao hơn tiêu chuẩn là nhiệt, đông y gọi là can hư nhiệt, làm mắt có gân đỏ, thiếu máu nuôi mắt làm mắt mờ. Đông y kết luận âm hư sinh nội nhiệt, cơ thể thiếu máu, trong người nhiệt, không ngủ được.
Khi cơ thể thiếu khí và thiếu máu, đưa đến hậu qủa tất yếu không cần thử nghiệm máu cũng đã biết, nhưng bệnh nhân này cho biết kết qủa thử máu như sau :
Bạch cầu :4.4 (giới hạn bình thường từ 4.5 - 10.5 ) = Bạch cầu giảm.
Hồng cầu : 4.01 (giới hạn bình thường từ 4.20 - 5.4 )= Hồng cầu giảm.
Hct : 36.8 (giới hạn bình thường từ 37-47) =Giảm khối lượng hạt máu do thiếu máu, do xuất huyết.
Tất cả các chỉ số khác đều bình thường
Chỉ số Ft4 :1.2 (giới hạn bình thường từ 0.6 - 1.1 ) = Tăng năng tuyến giáp
Chỉ số TSH : 0.30 (giới hạn bình thường từ ` 0.34 - 5.6 )= Chức năng tuyến yên giảm
Kết luận của đông y khí công là thiếu máu thì dùng thuốc bổ máu, thiếu khí thì luyện tập khí công, nhưng bệnh nhân này nói, bác sĩ bảo không thiếu máu, chỉ muốn KCYĐ hướng dẫn cách chữa trị ngọn bệnh là uống thuốc gì chữa mất ngủ, uống thuốc gì chữa mờ mắt, uống thuốc gì chữa đau thượng vị.
Nếu chữa ngọn, bệnh này chữa khỏi, bệnh áp huyết tụt xuống thấp nữa trở thành thiếu khí huyết trầm trọng lúc đó trở thành bệnh ung thư bao tử và bệnh viêm gan.
Nên đông y khí công cần chữa gốc bệnh để phòng ngừa không bị ung thư bao tử hay viêm gan bằng cách bổ sung máu cho cơ thể, và tập luyện những bài tập khí công tăng cường oxy để duy trì công thức máu khỏi bị mất máu, tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mền Bụng 200 lần sau mỗi bữa ăn để bao tử hấp thụ và chuyển hóa thức ăn thành chất bổ máu, loại bỏ cặn bã và độc tố ra khỏi cơ thể nhanh, bài này ép bao tử và gan, ruột kích thích chức năng co bóp, bao tử sẽ hết nhiệt hết làm đau tức thượng vị, gan hết có dấu hiệu cứng gan chai gan, không bị liệt ruột làm tiêu chảy hay táo bón, thông khí toàn thân, gan mạnh và hết nhiệt trong gan, mắt sẽ sáng trở lại, sau khi tập Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm bụng thì áp huyết xuống thấp, phải tập tiếp bài Nạp Khí Trung Tiêu 5 lần làm tăng áp huyết lên trở lại, và bài Cúi Ngửa 4 Nhịp giúp cung cấp máu lên nuôi não và mắt.
Cho nên cách khám bệnh và chữa bệnh theo Khí Công Y Đạo, cần phải đo áp huyết ở 2 tay và 2 chân tương đương với kết qủa thử nghiệm máu của tây y, rất cần thiết để hướng dẫn cách tự chữa bệnh và phòng bệnh trước khi trở thành bệnh nan y khó chữa.
Thân
doducngoc